VOV6 - Chí sĩ yêu nước, học giả, nhà báo, nhà văn hóa Huỳnh Thúc Kháng tên thuở nhỏ là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên sinh năm 1876, quê ở làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, nay thuộc xã Thạnh Bình – Tỉnh Quảng Nam. Xuất thân trong một gia đình Nho học ở xứ Quảng vùng đất giàu truyền thống yêu nước và hiếu học, lại là người thông minh, chịu khó và có chí nên Huỳnh Thúc Kháng sớm đỗ đạt. Năm 1904, cụ đỗ đầu kỳ thi Hội và giành học vị tiến sĩ ở Huế, được dân gian tôn là “tứ hổ” của xứ Quảng lúc bấy giờ. Mặc dù sớm đỗ đạt cao và nổi tiếng nhưng Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan cho triều Nguyễn mà kết bạn tâm giao với những người đỗ đạt cao cùng chí hướng như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp để mong tìm đường cứu nước. Đường lối cứu nước mà cụ tâm đắc là cổ động cho phong trào tân học, đả phá lệ khoa cử phong kiến, kêu gọi các thân hào, thương gia ở miền Trung lập các hội thương, hội công, hội nông... nhằm góp phần canh tân đất nước. Sinh thời, cụ Huỳnh Thúc Kháng có những cống hiến quan trọng trong phong trào Duy Tân, từng giữ cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm báo Tiếng Dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngoài vai trò là một nhà hoạt động cách mạng, một chính khách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hậu thế còn biết đến Huỳnh Thúc Kháng với tư cách là một nhân sĩ, một tác gia tiêu biểu của dòng văn học yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cụ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm văn chương “mạnh mẽ, cứng cỏi chính bản lĩnh con người” như Thi tù tùng thoại, Thi văn với thời đại, Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử, Xã túc tập, Gia đình giáo dục, Tuồng Trưng vương bình ngũ lãnh, Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, Thi tù thảo, Đê hải thi tập, Mính Viên cận tác...