
Câu chuyện chúng ta vừa nghe nằm trong bối cảnh Trường Sơn năm 1971, những tháng ngày ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhân vật chính của truyện là trung đội trưởng Nguyễn Kháng, người nhận nhiệm vụ quản lý một trạm xăng dầu giữa rừng Trường Sơn và đặt các đường ống dẫn xăng dầu ẩn mình dưới rừng già. Hai nhân vật nữ xuất hiện sau nhân vật chính là Phượng và Dịu, hai cô gái được bổ sung từ hậu phương vào, giữ nhiệm vụ lắp đặt và sửa chữa cơ khí. Chính hai cô gái đã tạo ra một bầu không khí sinh động, tươi tắn, mới mẻ cho cả trạm xăng dầu, cũng là tạo nên vẻ đẹp cho truyện ngắn này. Giọng điệu trần thuật của tác giả cũng thay đổi kể từ khi xuất hiện hai nhân vật nữ. Người đọc sẽ còn nhớ thật nhiều những đoạn tâm sự giữa hai cô gái, những câu nói đùa, những phút thẫn thờ, và cả những tình huống dở khóc dở cười của Phượng và Dịu. Trong sự tàn phá ác liệt của chiến tranh, những cô gái vẫn không nguôi ước mơ sau này được tiếp tục đi học, tâm hồn họ vẫn trong trẻo như suối rừng, vẫn lãng mạn và đẹp như những đóa phong lan treo đầy quanh trạm. Trở lại với nhan đề của truyện ngắn, đây thực sự là một cách gọi tên gây nhiều bất ngờ và ấn tượng. Cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã “xếp bút nghiên lên đường ra trận”, rồi để lại những ký ức, những nỗi nhớ và cả bao mơ ước của mình khắc lên vỏ cây giữa rừng già. Biết bao người trong số đó đã ngã xuống, để lại phần khắc tên như những dòng chữ cuối cùng trong cuộc đời. Phần kết của truyện gây nhiều xúc động khi Phượng trúng bom hy sinh, tay vẫn ôm mảnh gỗ từ thân “cây đại học” để kê vào đường ống dẫn dầu. Chi tiết những sợi tóc của Phượng mắc vào vỏ gỗ mà không ai nỡ gỡ ra là một chi tiết đầy ảm ảnh. Cái kết của truyện tuy buồn thương nhưng nó không làm người ta yếu lòng, trái lại, sự hy sinh ấy như tiếp thêm sức mạnh cho những người đang sống để tiếp tục chiến đấu kiên cường. Chính họ sẽ viết tiếp những ước mơ cho bao đồng đội đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của dân tộc…(Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)

Quý vị và các bạn thân mến, quá trình hiện đại hóa tác động tới nhiêu mặt của đời sống xã hội từ đô thị tới nông thôn. Dường như nhịp sống của con người cũng gấp gáp hơn, sự thay đổi diễn ra cũng nhanh hơn. Đặc biệt là việc xây dựng những công trình hiện đại để phục vụ đời sống mới. Những mảnh vườn trước chỉ trồng vài luống rau, nuôi mấy con gà nay trở thành khu phố sầm uất đông người buôn bán. Hay khu nhà lụp xụp khi mở con đường mới bỗng biến thành khu cao ốc hiện đại. Nhân vật tôi trong câu chuyện cũng không tránh khỏi những đổi thay như vậy. Mảnh vườn nhỏ của ông từ khi mở con đường mới thì trở thành một gia tài đáng kể. Và để thay đổi cuộc sống nghèo khó, vợ chồng ông quyết định bán mảnh vườn đi. Cuộc sống của gia đình ông giàu có hơn nhưng chưa chắc hạnh phúc. Tình cảm hai vợ chồng bỗng trở nên rạn nứt vì chuyện tiền bạc. Thất vọng vì cuộc sống hôn nhân, ông gửi gắm tình cảm vào mảnh vườn xưa mình dày công chăm sóc gây dựng. Khu vườn với cây trái xanh tươi làm dịu mát tâm hồn nhân vật và khiến ông như sống lại thời hạnh phúc xa xưa. Và cũng chính tại khu vườn, nhân vật gặp được cô gái trẻ, ông vẽ cô nhưng chưa kịp tặng cô bức ảnh thì nàng đã ra đi mãi mãi. Hình ảnh của cô luôn ẩn hiện trong tâm trí ông mỗi khi đắm mình trong không gian khu vườn. Phần đầu câu chuyện là hiện thực của cuộc sống con người trước những tác động của đời sống hiện đại thì phần sau tác giả đưa vào nhiều yếu tố hư ảo về hình ảnh cô gái trẻ. Truyện ngắn được tác giả khắc họa bởi những đường nét, màu sắc, hình khối khá sắc nét thể hiện mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa hiện tại và quá khứ. Vệt nắng của ngày hôm nay cũng giống như hôm qua hay ngày mai. Nhưng nó sẽ trở nên khác biệt nếu ẩn chứa trong đó nỗi niềm của xúc của con người...(Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Góc nhìn của người viết không mới, truyện ngắn cùng không có gì đột phá về cách viết. Nhưng bằng một giọng văn mộc mạc người viết đã cho người đọc, người nghe cảm nhận về một nông thôn thời đổi mới sự thật đôi khi nghiệt ngã nhưng luôn có những lối thoát trong cuộc đời. Truyện ngắn “Cháo đời” là câu chuyện của 2 người bạn, lão An và lão Tuấn. Họ là 2 người của thế hệ cũ và cuộc đời của những đứa con của họ đã rơi vào vòng cuốn của xã hội hiện tại. Mỗi đứa con đều có một cách phát triển khác nhau theo xu thế của xã hội. Đứa thì trượt vào tệ nạn để đến mức chính người cha của mình vì danh dự vì trách nhiệm của bản thân không còn lối thoát nào khác phải giết con mình rồi tự tử. Một bị kịch chúng ta gặp đâu đó ở cuộc sống không ít. Còn đứa con ông An được học hành có lí tưởng và ý thức trách nhiệm với cuộc sống với truyền thống gia đình đã dám cãi lời bố mẹ để đi trên con đường riêng của mình. “Cháo đời” là một câu chuyện bi kịch, bất hạnh nhưng có một kết cục chấp nhận được. Người viết chưa thật cao tay về thủ pháp văn chương nhưng đã vẽ lại một bức tranh đồng bằng Bắc bộ đang thời kỳ đô thị hoá với bộn bề mâu thuẫn. Tuy vậy, truyện ngắn vẫn gửi một thông điệp, rằng vẫn có niềm tin vào sự tốt đẹp vào lớp trẻ đang có một tư duy mới, nếp sống mới để xây dựng nông thôn theo hướng hiện đại và văn minh. (Lời bình của BTV Vân Khánh)

Có thể so với một số cây bút tiêu biểu về đề tài miền núi như Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Tống Ngọc Hân, truyện ngắn của Chu Thị Minh Huệ bớt ngồn ngộn chi tiết và tiết chế sự dữ dội hơn. Bù lại, tác giả rất biết cách để những trang văn của mình không trở thành minh họa thuần túy cho tập tục của đồng bào dân tộc ở Hà Giang. Những câu văn ngắn, dễ hiểu, vừa phải, cô đọng kể cho chúng ta về câu chuyện về thân phận người Mông ở Yên Minh, ở Đồng Văn thông qua những nét sinh hoạt, văn hóa đặc sắc từ nghìn xưa. Nhà văn có thói quen đặt ra các câu hỏi, các giả thiết rồi lại tự lý giải để làm sáng lên những thắc mắc, làm mạch nối cho các diễn biến tiếp theo. “Nối dây” ở đây không đi theo mô – típ thông thường là lên án một tập tục lâu đời đã thành lạc hậu. “Nối dây” là để nối lại đường đi của tình yêu, số phận con người tuân theo lẽ tự nhiên lúc ban đầu. Vì thế, dù câu chuyện kết thúc bằng cái chết của Vảng và Pà, hai người yêu nhau mà không cưới được nhau nhưng lại không hoàn toàn buồn thảm, bi kịch. Ở đó, ta vẫn thấy được ánh sáng của một đời sống mới, tiếp nối mới - Những người ở lại – Dua và Phủ, không còn phó mặc cho số phận mà biết đấu tranh và giữ lấy hạnh phúc. Thêm một điểm cộng cho nhà văn Chu Thị Minh Huệ khi chị viết về điều ấy với một ngòi bút khá tự nhiên và thấm đẫm tình người (Lời bình của BTV Võ Hà)

Quý vị và các bạn thân mến, tác giả đưa người đọc, người nghe trở lại chiến trường Trường Sơn năm xưa biết bao cảm xúc vui buồn. Bom đạn của đế quốc Mỹ cũng không thể dập tắt được tinh thần yêu nước cũng như ý trí tuổi trẻ Việt Nam. Ngay bên chiến hào khói lửa, bên hố bom chưa kịp san lấp, mỗi lắng tiếng súng là người lính trẻ lại cất lời ca tiếng hát về tình yêu tuổi trẻ, tình yêu với quê hương, đất nước. Vui nhất là những dịp các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường được các đoàn văn công đến biểu diễn. Giọng ca, tiếng hát của người nghệ sĩ khiến biết bao người lính xúc động khi nhớ tới gia đình và người thân yêu ở hậu phương. Nhân vật Hà là nữ văn công của sư đoàn, giọng hát dân ca bài chòi của cô khiến bao người lính say mê, yêu mến. Trong đó có chàng lính trẻ tên Phong. Việc anh chàng Phong yêu say đắm nữ văn công Hà thì đã râm ran trong sư đoàn và được mọi người trêu đùa. Nhưng 2 người trong cuộc thì thực sự chưa từng thổ lộ cùng nhau. Ấy vậy mà Phong lại ghen khi thấy Hà biểu diễn có đôi, có cặp trên sân khấu. Đúng là có yêu người ta mới có ghen. Cuối cùng được mọi người vun vào, tình duyên hai bạn trẻ Phong -Hà mới thành công. Một câu chuyện vui tươi, hóm hỉnh đầy chất lính về tình yêu người lính trẻ trong chiến tranh. Truyện ngắn xảy ra trong thời gian, không gian chiến tranh nhưng người đọc, người nghe không hề thấy sự ác liệt, gian khổ của cuộc chiến. Mà đầy ắp trong đó là những tiếng hát, là cảm xúc của tình yêu. Nỗi hờn ghen vu vơ của anh lính Phong như một gia vị của tình yêu và chắc sau này khi nhớ lại không khỏi khiến người trong cuộc phải bật cười. Truyện ngắn giúp người đọc, người nghe hiểu hơn tình yêu người lính giàu cảm xúc trong chiến tranh. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Không rực rỡ như những dân tộc vùng cao Tây Bắc, trang phục của người phụ nữ Chăm thể hiện nét duyên dáng độc đáo, vừa kín đáo lại quyến rũ lạ thường. Để tạo nét quyến rũ, người phụ nữ Chăm thường chọn khăn đội đầu để tô thêm sắc thái hài hòa của bộ trang phục. Những lúc trời nắng chói chang thì khăn có thể che mái tóc dài óng ả. Những khi trời lạnh thì khăn được quàng quanh cổ giữ ấm vừa tạo nên vẻ kín đáo cho người phụ nữ Chăm. Chiếc khăn trở thành vật không thể thiếu trong văn hóa cũng như cuộc sống của người dân tộc Chăm. Tác giả Kiều MaiLy cũng lấy chiếc khăn Niram, món quà cưới là hình ảnh xuyên suốt câu chuyện. Vì loạn lạc chiến tranh mà nhân vật tôi khi còn nhỏ đã làm thất lạc người em gái bé bỏng của mình. Từ ngày đó bà mẹ cũng như nhân vật luôn ân hận day dứt không biết cô gái nhỏ mới 2 tuổi còn sống hay không, đang ở đâu, có được khỏe mạnh hay không. Nỗi nhớ mong con mòn mỏi khiến bà mẹ đã ốm đau không qua khỏi. Nhân vật Tôi lớn lên một thân một mình với nỗi niềm thương nhớ. 18 năm sau, có hai mẹ con vị khách từ Camphuchia qua làng chơi. Từ dấu vết để lại trên chiếc khăn Njram của cô gái Siam mà hai anh em nhân vật đã đoàn tụ với nhau. Câu chuyện được viết giản dị nhưng xúc động nhất là những gia đình bị thất lạc người thân của mình. Hình ảnh chiếc khăn Njram, chiếc khăn truyền thống trong đám cưới người Chăm lúc nào cũng ẩn hiện như sợi dây gắn kết gia đình. Chiến tranh khiến biết bao gia đình ly tán, cha mẹ, anh chị em phải xa cách nhau. Và khi họ tìm lại được người thân của mình thì thật là niềm hạnh phúc không gì so sánh được. Qua truyện ngắn, người đọc, người nghe hiểu hơn những nét đẹp trong văn hóa người Chăm cũng như những giá trị của gia đình. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Câu chuyện chúng ta vừa nghe xoay quanh những cảm xúc và tâm trạng của nhân vật chính mang tên Savale– một người đàn ông đã 62 tuổi. Truyện mở đầu ngay bằng nỗi buồn bã cô đơn của Savale bởi ông không vợ không con, không còn ai thân thiết. Ngẫm lại về cuộc đời mình từ thời trẻ cho đến nay, chính Savale cũng phải thừa nhận đó là một cuộc đời “nhạt nhẽo và vô tích sự xiết bao”. Tất cả mọi chuyện diễn ra trong sự bình lặng, đều đặn, thụ động, ngày này lặp lại ngày khác. Và đến bây giờ ông mới thấy tiếc, tại sao mình không sống một cuộc đời sôi nổi hơn. Nhưng có lẽ điều đáng tiếc nhất là, trong suốt cuộc đời của mình, ông chưa thực sự yêu ai. Có một tình yêu duy nhất thì lại là yêu thầm lặng, đơn phương, yêu mà không hề dám nói. Bây giờ, người phụ nữ ấy, ông phải gọi theo tên chồng của bà là bà Sandre, cũng đã 58 tuổi rồi. Và Savale mới thấy hối tiếc tại sao ông không thổ lộ tình cảm của mình khi hai người từng đi dạo riêng với nhau bên bở sông, bởi Sandre lúc đó đã tỏ ra rất mến ông. Một câu chuyện đã diễn ra cách đây mấy chục năm, bây giờ làm Savale khổ sở, vì ông muốn biết nếu lúc đó ông tỏ tình thì bà Sandre có đồng ý hay không. Vậy là ông quyết tâm tìm đến tận nhà Sandre để hỏi cho ra nhẽ. Than ôi, thời gian đã biến một nàng Sandre xinh đẹp thuở nào trở thành “một phụ nữ to béo sồ sề với hai má xệ xuống và tiếng cười oang oang, mấy giọt nước mứt lê chảy từ các ngón tay bà xuống đất”, còn đâu vẻ yêu kiều thanh nhã của cái ngày đi dạo bên bở sông. Và phũ phàng hơn nữa khi câu trả lời của bà Sandre càng khiến cho Savale hối tiếc đến đau xót, đúng như nhan đề truyện ngắn mà Guy đờ Mô pát xăng đã đặt tên. Truyện mở đầu bằng nỗi buồn vì sự cô đơn của Savale và kết thúc bằng những giọt nước mắt muộn màng khi ông ngồi xuống gốc cây liễu đã trụi lá. Âm hưởng câu chuyện gieo vào mỗi người đọc một chút buồn man mác, một chút ý vị hài hước nhẹ nhàng cùng không ít những suy tư. Phải chăng, thông điệp mà Mô Pát Xăng muốn gửi gắm qua thiên truyện, mỗi con người phải biết tận hưởng tuổi trẻ và tình yêu, phải dám sống là mình và hết mình, để sau này không phải ân hận vì những lỡ làng chẳng bao giờ sửa chữa được. Ai đó từng đúc kết: Có khi lỡ hẹn một giờ/ Lần sau muốn gặp phải chờ trăm năm. Lỡ hẹn một lần cũng đồng nghĩa với việc chẳng bao giờ còn trở lại cơ hội ấy. Và một thông điệp nữa mà chúng tôi cảm nhận được qua truyện ngắn này, đó là con người không thể sống mà không có một tình yêu, dù khi đang ở độ thanh xuân hay đã xế chiều ngả bóng về già. Tôi chợt nhớ lại lời tâm sự của NSND Kim Cương trong giây phút tiễn đưa thi sĩ Bùi Giáng về nơi an nghỉ cuối cùng, xin được dùng để khép lại lời bình truyện ngắn này: “Tôi cám ơn ông Bùi Giáng đã cho tôi một bài học rằng, dù điên hay tỉnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, trong lòng mỗi người đều phải có một mối tình chân thật để sống hết cuộc đời” (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)

Bản Lướt cũng như nhiều vùng sâu, vùng xa khác ở nước ta vẫn còn những nếp nghĩ, quan niệm lạc hậu. Đó là suy nghĩ cho rằng phụ nữ không cần học cao làm gì, chỉ đủ con chữ rồi lấy chồng, sinh con, lo lắng việc gia đình. Vì vậy không ít cô gái trẻ mới đang dang dở học lớp 9, lớp 10 đã phải vội lấy chồng. Biết bao ước mơ, hoài bão, kế hoạch của tuổi trẻ trở nên dang dở bởi việc làm vợ, làm mẹ từ rất sớm. May mắn cho cô gái trẻ tên là Xanh trong câu chuyện không phải chịu cảnh lấy chồng sớm như vậy. Cô lấy cái chết để đe dọa cha mẹ cho mình học hết đại học. Thấy con gái quyết liệt như vậy, ông Quản cha cô đánh chịu nhưng lúc nào cũng canh cánh việc gả chồng cho con. Ông cảm thấy con gái như bom nổ chậm không cẩn thận là làm mất mặt gia đình. Chính vì vậy, tuy Xanh đã ngoài 30 nhưng ông lúc nào cũng để mắt xem cô đi đâu, làm gì, quan hệ cùng ai. Sự quan tâm có phần quá mức của cha khiến Xanh cảm thấy mất tự nhiên trong cuộc sống. Những đồn thổi vu vơ về mối quan hệ giữa cô và anh Dưỡng rồi thái độ sốt ruột của cha khiến tình cảm mới nảy sinh trong lòng Xanh bỗng trở nên rụt rè. May mắn là người yêu cô chủ động tìm đến nói chuyện với ông Quản và tình duyên của họ trở nên trọn vẹn. Truyện ngắn được viết mộc mạc, giản dị về chuyện tình của đôi trai gái nơi vùng cao. Qua câu chuyện tình yêu của cô gái Xanh, người đọc, người nghe hiểu hơn về phong tục, tập quán, nếp sống của các dân tộc thiểu số nước ta. Tuy vậy, mối tình của Xanh với Dưỡng được tác giả miêu tả có phần hơi đơn giản và đưa đẩy quá nhanh. Nếu khai thác thêm cuộc sống nội tâm của Xanh khi đã lớn tuổi vừa thực hiện hoài bão của mình vừa chịu sức ép phải lập gia đình từ cha, mẹ. Thêm thắt những va chạm, hiểu lầm nho nhỏ của đôi trai gái rồi mới nên duyên chồng vợ thì có lẽ truyện ngắn sẽ hấp dẫn hơn với người đọc, người nghe...(Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Ngay từ nhan đề của tác phẩm đã gợi sự tò mò, kích thích cho người đọc, người nghe, “Đảo trong đêm” gợi sự huyền bí, bí ẩn và quả thực khi nghe những trang văn ấy, chúng ta cảm nhận rõ không gian đa chiều mà tác phẩm phản ánh. Đó là hai thế giới thực và ảo, là sự đối lập, mâu thuẫn mà nhân vật Du đang trải qua. Cô là bác sĩ tâm lý, chữa bệnh cho bao người nhưng chính cô lại gặp phải những sang chấn tâm lý mà không thể nào dứt được. Cô ám ảnh từng đêm về hòn đảo hoang vu, ám ảnh với hình ảnh cô sinh viên nằm sõng soài trong khuôn viên thư viện trường cô, người mà trước đó nửa tiếng muốn được nói chuyện với cô nhưng cô hẹn sau vì đến giờ họp. Một sự muộn màng. Cô ân hận và đau xót, từ đó Du sống trong nỗi ám ảnh từng đêm, chập chờn trong những cơn mê sảng, sợ hãi nhìn vào bóng đêm và bị bủa vây bởi hòn đảo vắng người và hoang lạnh. Nỗi sợ hãi khiến cho Du trở nên u uất và chán nản. Sống bên cạnh người chồng vô cảm, Du càng cô độc, không có ai chia sẻ cô. Không ai tin cô bị bệnh về tâm lý bởi cô là bác sĩ. Du rơi vào trạng thái trầm cảm, chán nản và ám ảnh. Cuối thiên truyện, Du lặng lẽ bước xuống dòng nước xiết và lạnh buốt, văng vẳng bên tai những lời nói đầy mâu thuẫn của chính mình. Chúng ta chắc sẽ đoán được kết cục của số phận Du, một nỗi xót xa về phận người cô độc trong thế giới đầy biến động này…

Truyện ngắn “Sóng trên đỉnh núi” của tác giả Lê Mạnh Thường gợi nỗi xúc động cho người đọc, người nghe bởi sự giản dị, chân chất của các nhân vật. Sín là nhân vật trung tâm của truyện, một chàng trai dân tộc miền núi chưa bao giờ biết về biển đã lên đường nhập ngũ, để rồi từ đó gắn bó với biển đảo như chính quê hương của mình. Những nhân vật khác cũng bộc lộ cá tính, phẩm chất rất đáng yêu của người lính. Họ luôn sát cánh bên nhau, dũng cảm, kiên cường trong mọi tình huống. Bên cạnh đó là sự hóm hỉnh, tếu táo, dí dỏm, gần gũi như anh em một nhà của người lính đảo. Đó chính là sức mạnh giúp họ vượt qua những ngày tháng gian khổ mà cũng rất đỗi vinh quang, tự hào. Câu chuyện tình yêu của người lính cũng được tác giả viết bằng những tràng văn đẹp, ấm nồng, đó là nguồn sức mạnh tinh thần giúp người lính đang ngày đêm canh giữ biển trời được chia sẻ, cảm thông và yêu thương. Sự hy sinh của Sín là một nốt lặng của thiên truyện ngắn, thể hiện nỗi đau xót, tiếc thương. Câu chuyện gợi cho chúng ta nhiều nghĩ suy, để có được cuộc sống tự do, bình yên thì sự hy sinh âm thầm, anh dũng của người lính càng được trân trọng hơn bao giờ hết...(Lời bình của BTV Văn Khánh)

Truyện tiếp nối nguồn cảm hứng “Vợ Đông chồng Tây” trong hầu hết sáng tác những năm gần đây của Kiều Bích Hương. Ta gặp trong đó những câu chuyện của thời đại hôm nay – Chuyện trải nghiệm mới trong cuộc sống khi lấy chồng ngoại quốc, chuyện các gia đình có điều kiện đưa con ra nước ngoài gửi gắm người thân, chuyện làm du lịch, làm kinh tế ở Tây, ở ta. Nhà văn Kiều Bích Hương gửi vào câu chữ hiểu biết về thế giới, đất nước Bồ Đào Nha, về lối sống ưa chuyển dịch với một văn phong thông suốt, liền mạch. Trong những dữ liệu có vẻ toàn cầu và to tát ấy, ta bắt gặp những chi tiết rất đời thường về tình thân, tình chồng vợ, về tính cách con người, về hoài bão, mục đích sống không ai giống ai. Nhân vật xưng “tôi”, người dì trong truyện ngắn này, trong tâm thế là công dân toàn cầu, một phụ nữ hiện đại với lối suy nghĩ đầy tư tưởng giải phóng cá nhân. Thế nhưng trong sâu thẳm vẫn là những nét tính cách và bản chất truyền thống Việt Nam: dịu dàng và nữ tính, coi trọng gia đình, các giá trị làm nên con người tử tế. Những đứa trẻ dẫu có cách hành xử ra sao cuối cùng vẫn mong sống trọn trong tình yêu thương của bố mẹ. Và ta cũng bắt gặp hình mẫu phụ nữ làm kinh tế liều lĩnh, táo bạo, vươn tầm nhìn ra thế giới qua nhân vật “Chị Nhung” với mô hình đầu tư khách sạn trong nước. Mỗi người một lựa chọn, một nhu cầu, một đam mê sống. Tác giả không quy kết cách sống nào là đúng, là sai. Đọng lại trong câu chuyện nuôi nấng hai đứa con chị gái của cặp vợ Đông chồng Tây là những phát hiện, mách bảo về tình yêu thương, về sự trao quyền, trao tự do, khích lệ hòa nhập. Quả thật, khi cuộc sống đặt ta vào sự đã rồi, ngay trong những hoàn cảnh chính bản thân cũng không mong muốn, một số niềm vui và hứng khởi lại đến thật bất ngờ khi trưởng thành trong hoàn cảnh ấy…(Lời bình của BTV Võ Hà)
Nhà văn Võ Thị Xuân Hà không còn xa lạ với nhiều bạn đọc qua các tập truyện ngắn như: “Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào”, “Bầy hươu nhảy múa”, “Cổ tích cho tuổi học trò”, “Kẻ đối đầu”, “Giá nhang đèn và những truyện khác”, “Màu vàng thần tiên”, “Chuyện của con gái người hát rong”, “Đàn sẻ ri bay ngang rừng”, “Tiếng gà gáy trong rừng hoa A-rui”, “Cà phê yêu dấu”, “Những bông điệp cuối mùa”, “Cành phong hương”, “Chuyện của các nhân vật có thật trên đời”, “Hoàng mộc hương”…Văn của Võ Thị Xuân Hà có phong cách rất riêng, nội lực dồi dào, sâu sắc, trữ tình. Từng thử sức ở lĩnh vực biên kịch điện ảnh nên trong không ít tác phẩm, có nhiều đoạn nhà văn viết như kịch bản. Mỗi câu văn ngắn gọn là hình ảnh sinh động, cuốn hút tạo nên một mảng hiện thực vời vợi, dạt dào cảm xúc cho độc giả. Trong chương trình Đọc truyện đêm khuya hôm nay, giọng đọc…sẽ chuyển tới các bạn một sáng tác như thế của nhà văn Võ Thị Xuân Hà, truyện ngắn mang tên "Đất hoa" (Chương trình Đọc truyện đêm khuya phát 4/3/2021)
Mùa xuân đâu chỉ là mùa của lễ hội mà còn là mùa của cây cối đâm chồi nẩy lộc, là mùa trồng cây gây rừng “Để cho đất nước càng ngày càng xuân”. Nếu như truyện ngắn “Tướng bà” của nhà văn Đỗ Hàn đậm hương vị văn hóa đồng bằng Bắc Bộ thì truyện ngắn “Rừng thiêng “của tác giả Đinh Su Giang đượm phong vị của núi rừng Tây Nguyên. Không gian trong trẻo nhuốm màu sắc huyền bí. Con người Tây Nguyên khảng khái bộc trực, đầy khát vọng và khí chất. Nếu “Tướng bà” gọi ta về với văn hóa dân gian thì “Rừng thiêng” gọi ta về với nơi khởi nguồn, để biết gần gũi giao hòa và trân trọng thiên nhiên. Bút pháp của truyện vừa độc thoại nội tâm vừa nhuốm màu huyền ảo, diễn tả thế giới của những con người sống gần với thiên nhiên, đôi khi nghe được tiếng nói của rừng, trò chuyện tâm sự với rừng và trăn trở đau đáu về việc gìn giữ những cánh rừng. Vậy là mùa xuân luôn mang đến những thông điệp tích cực, gần gũi để mỗi người sống ý nghĩa hơn trong những ngày tiếp theo (Lời bình của BTV Tuyết Mai)

Truyện ngắn “Tính cách Nga” là một tác phẩm với dung lượng vừa phải. Tuy nhiên, chính trong tác phẩm không lớn này, A-lếch-xây Tôn-xtôi đã làm nổi bật những nét chính yếu trong tính cách của dân tộc Nga thông qua câu chuyện không quá nhiều tình tiết. Thực sự, con người ta thường chỉ bộc lộ đúng bản chất của mình trong những tình huống éo le đau đớn nhất. Và những con người trong truyện ngắn “Tính cách Nga” cũng đã hành xử đúng với mình nhất, xứng đáng với đạo lý và tình nghĩa nhất khi phải đối mặt với hiện thực đầy mất mát và bi thảm. Tác phẩm kể về người lính xe tăng Ê gô Đrê-mốp. Anh vốn là một thanh niên đẹp trai, tuấn tú, rất yêu thương cha mẹ mình. Anh cũng có cô người yêu Katya xinh đẹp ở làng mà anh coi như báu vật. Trên chiến trường, anh lập được nhiều chiến công nhưng vốn là người khiêm nhường nên không hay kể lể về thành tích của mình. Trong một trận đánh, xe tăng bị bắn cháy và Drê -mốp đã bị thương nặng. Anh phải trải qua nhiều ca phẫu thuật mới thoát được cái chết mười mươi. Rốt cục gương mặt anh bị biến dạng, có nguy cơ bị loại ngũ. Tuy nhiên, anh vẫn kiên quyết đề nghị cấp trên cho anh trở lại trung đoàn cũ. Cấp trên cho anh nghỉ phép hai mươi ngày về thăm nhà trước khi lại ra chiến trường. Về quê cũ, không muốn làm cha mẹ phải đau đớn vì khuôn mặt đã bị biến dạng của mình, Đrê -mốp xưng là bạn của con trai họ. Và anh đã được gia đình tiếp đón rất tình cảm. Sáng hôm sau, Ca-chi-a cũng tới thăm anh và hỏi chuyện về người yêu của mình… Đrê - mốp đã kể về các chiến tích của người lính và quyết định sẽ vĩnh viễn ra khỏi cuộc đời Ca-chi-a để không làm cô đau đớn…Trở lại chiến trường, Đrê -mốp đã nhận được thư của người mẹ: bằng sự linh cảm của hiền mẫu, bà muốn hỏi anh: có phải đó là chính anh đã trở về thăm nhà hay không? Vì bà luôn có cảm giác anh thực sự là con trai bà… Bà nói rằng, bà tự hào về con trai mình và muốn gặp lại anh để biết sự thật… Rồi Đrê-mốp có cơ hội gặp lại mẹ, gặp lại người yêu. Ca-chi-a nói rằng cô chỉ muốn suốt đời sống với anh thôi dù gương mặt anh bây giờ không như xưa nữa…Đó là nét tính cách Nga mà A-lếch-xây Tôn-xtôi muốn nói tới, sự nhân ái thủy chung không gì có thể thay đổi, càng trong bi thương càng ngời sáng và bền vững…(Lời bình của nhà thơ Hồng Thanh Quang)