“Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du là một tác phẩm văn chương có ý nghĩa triết lý rất sâu sắc. Yếu tố quan trọng làm nên sự bất hủ của “Truyện Kiều” qua các thời kỳ lịch sử và chế độ xã hội khác nhau, vượt khỏi phạm vi quốc gia, được biết đến ở nhiều dân tộc khác trên thế giới là những tư tưởng nhân văn sâu sắc của tác phẩm. Xã hội càng văn minh, tiến bộ thì lại càng phát hiện thêm nhiều giá trị nhân văn mới trong “Truyện Kiều”. Cùng với tư tưởng nhân nghĩa và vị tha, tư tưởng khoan dung và lạc quan về tương lai trong “Truyện Kiều” cũng là những giá trị tư tưởng bất hủ của dân tộc Việt Nam, xứng đáng hòa nhập với di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Nhân kỷ niệm 260 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du, một sự kiện văn hóa đặc biệt đã thu hút sự chú ý của giới mộ điệu: sự ra mắt ấn phẩm "Kim Vân Kiều" do Nhã Nam phát hành. Đây không chỉ là một cuốn sách, mà là điểm hội tụ hiếm có giữa di sản văn chương của Nguyễn Du, ngôn ngữ quốc ngữ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và hội họa của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm tạo nên một không gian thẩm mỹ, một giá trị lớn, xứng đáng được chào đón và thưởng lãm. Hãy cùng chương trình Tìm trong kho báu khám phá không gian thẩm mỹ độc đáo và chiêm ngưỡng bộ tranh Kiều chưa từng được công bố tại buổi tọa đàm ra mắt ấn phẩm này.
Không chỉ dừng lại ở những điển tích gốc Hán, sức sống diệu kỳ của Truyện Kiều còn nằm ở những ẩn dụ đậm đà bản sắc Việt được Đại thi hào Nguyễn Du kết tinh qua ngòi bút bậc thầy. Chương trình "Tìm trong kho báu" tuần này mời quý vị cùng Giáo sư Trần Đình Sử khám phá tính dân tộc trong nghệ thuật ẩn dụ; đồng thời lắng nghe PGS.TS Trần Hoài Anh phân tích sức lan tỏa của Kiều tại miền Nam trước năm 1975. Đặc biệt, dưới góc độ lý thuyết hội thoại hiện đại, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thuận sẽ "bóc tách" màn đánh ghen tinh vi, đầy quyền lực của nhân vật Hoạn Thư – một ví dụ kinh điển về tâm lý học và ngôn từ trong văn học Việt Nam.
Theo các thống kê, “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du sử dụng phổ biến và hiệu quả phép ẩn dụ. Giáo sư văn học Lê Trí Viễn từng nhận định: “Cách nói nhiều hình tượng trong Truyện Kiều là cách nói bằng ẩn dụ, không có trang nào là không thấy một vài ẩn dụ”. Trong bối cảnh lịch sử và tư tưởng thời đại, dễ hiểu khi tác phẩm sử dụng nhiều ẩn dụ từ các câu chuyện, điển tích xuất xứ từ văn hoá Trung Quốc.
Khi khai thác nội dung và thông điệp của Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng tác phẩm mang giá trị nhân đạo lớn lao. Nếu như nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn khái quát: “Nguyễn Du vĩ đại vì cái tình đời, tình người sâu thẳm trong ông”, thì nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú khẳng định: “Thiên tài của Nguyễn Du trước hết là tình thương con người”. Nhà thơ Lưu Trọng Lư lại hình tượng hóa “cái tình vằng vặc như mảnh trăng giữa trời” của Truyện Kiều. Tình thương ấy được trải dài đong đầy xuyên suốt tác phẩm, gắn liền với nhiều cảnh huống và nhân vật khác nhau.
Chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm trong các tác phẩm của Đại thi hào Nguyễn Du, đặc biệt là “Truyện Kiều”. Có thể khẳng định “Tình thương” là chữ trọng tâm, là ký hiệu nghệ thuật cơ bản để tác giả soi rọi vào tâm trạng và số phận nhân vật. Ký hiệu chủ của cái “Tình” trong “Truyện Kiều” là chữ “Thương”. Có thể nói Đại thi hào Nguyễn Du đã “xây dựng một môi trường tình thương trong tác phẩm”.
Có thể nói đối ngẫu cùng điển cố, sóng đôi, ẩn dụ là những biện pháp tu từ tiêu biểu cho phong cách học cổ điển của Đại thi hào Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”, trong đó đối ngẫu đã góp phần làm cho nghệ thuật tự sự sắc nét, hài hoà, giàu nhạc tính, vừa tạo thành chất thơ đậm đà cho tác phẩm, vừa làm nên vẻ đẹp trau chuốt tương xứng cho lời văn. Nếu ẩn dụ, điển cố làm ngôn ngữ Truyện Kiều trở thành ngôn ngữ của biểu tượng, nội tại thì đối ngẫu làm cho tác phẩm thấm nhuần chất nhạc, vừa giàu có chất hoạ hài hoà, vừa nhiều tương phản, tương xứng nhịp nhàng, cân đối, đầy nhịp điệu, một phẩm chất không thể thiếu của mọi ngôn ngữ nghệ thuật đích thực.
Phép đối ngẫu là một thủ pháp nghệ thuật sử dụng sự cân xứng, hài hòa về ngữ âm, từ vựng và ý nghĩa giữa hai vế trong câu thơ, tạo nên sự chặt chẽ và tinh tế trong cách diễn đạt. Đối ngẫu trong “Truyện Kiều” là một hiện tượng đặc biệt, bởi trong truyện Nôm khuyết danh, dân gian không thấy có hình thức tiểu đối. Phép đối ngẫu đã nâng cao chất lượng tự sự, miêu tả nghệ thuật của tác phẩm.
Người Việt chúng ta từ xưa đến nay thường sử dụng chữ tôi với ba nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất: Tôi là đại từ nhân xưng dùng để xưng hô. Nghĩa thứ hai: “Tôi” là danh từ được dùng để chỉ quan hệ. Nghĩa thứ ba: “Tôi” là động từ. Cũng là đại từ nhân xưng nhưng chữ tôi có khác chữ ta.Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”, nhà Phê bình văn học Hoài Thanh từng viết: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân. Chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình”. Vì thế, trong văn học Trung đại, chữ ta xuất hiện khá phổ biến và Truyện Kiều cũng không là ngoại lệ. Trong văn học Trung đại chữ “tôi” được dùng với nghĩa danh từ: bầy tôi, tôi tớ, tôi đòi… không hiếm, nhưng chữ “tôi” dùng với nghĩa đại từ nhân xưng thì vô cùng hiếm hoi. Vậy mà trong “Truyện Kiều”, Đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng một cơ số chữ “tôi” với sắc thái và cách biến hoá vô cùng tài tình, sắc sảo.
Nghiên cứu cách xưng hô của Thuý Kiều, nhân vật chính trong “Truyện Kiều” với những người đàn ông duyên - nợ trong đời (Từ góc nhìn lí thuyết hội thoại), có thể nhận thấy ngay bản chất của những người đàn ông này. Thái độ và tình cảm của Thuý Kiều thể hiện trong cách xưng hô. Tài sử dụng ngôn ngữ đến mức chuẩn xác, sắc sảo như vậy, lại là ở trong một thể thơ vần luật nghiêm chuẩn, càng khẳng định thêm thiên tài của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Chúng ta tiếp tục nghe những phân tích của Thạc sĩ Ngữ văn Nguyễn Thị Thuận – Giảng viên Đại học Hải Phòng về cách xưng hô của Thuý Kiều với ba người đàn ông quan trọng, gắn bó trong quãng đời xuân trẻ của nàng.

Cách xưng hô trong Tiếng Việt của chúng ta vốn rất phong phú, đa dạng. Những điều quyết định và ảnh hưởng đến xưng hô có thể đến từ vị trí, vai trò, mối quan hệ, hoàn cảnh, ngữ cảnh và mục đích giao tiếp. Các phương tiện xưng hô trong xã hội phong kiến cũng có nhiều điểm khác biệt so với xã hội hiện đại. Thuý Kiều là nhân vật chính trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du. Trong suốt cuộc đời thanh xuân và lưu lạc của Kiều, nàng đã trải qua nhiều nỗi truân chuyên. Vốn “Thông minh vốn sẵn tính trời”, hơn ai hết, nhân vật Thuý Kiều nhận thức rõ nguồn cơn biến cố và bất hạnh cuộc đời mình. Với những người đàn ông duyên – nợ trong đời, Kiều luôn thẳng thắn đối thoại, có thái độ và cách xưng hô thể hiện tâm cảm cá nhân trong các tình huống khác nhau. Vận dụng lí thuyết hội thoại vào tìm hiểu cách xưng hô của Thuý Kiều với các nhân vật nam giới tham dự vào những biến cố trong cuộc đời nàng, Tiến sĩ Ngữ văn - Nguyễn Thị Thuận – Giảng viên Trường Đại học Hải Phòng đã khẳng định giá trị lớn lao trên phương diện ngôn ngữ của kiệt tác “Truyện Kiều”.
Trong tác phẩm “Truyện Kiều”, với ngòi bút bậc thầy, Đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng một hệ thống thủ pháp nghệ thuật đặc sắc nhằm gia tăng giá trị về cảm xúc nội dung, câu chuyện. Một trong số đó là phép sóng đôi, hay còn gọi là bài tỉ, sắp hàng ngang nhau. Đây là một phép tu từ cổ xưa trong đó các bộ phận giống nhau của câu được lặp lại trong câu hay đoạn văn, thơ, làm cho cấu trúc lời văn được chỉnh tề, rõ rệt, nhất quán, đồng thời do sự lặp lại mà tạo thành nhịp điệu mạnh mẽ, như thác nước từ trên cao đổ xuống, hình thành khí thế của lời văn lời thơ. Sức mạnh của phép sóng đôi làm cho tình cảm liền mạch dào dạt, như thể không dừng được. Cái hay của phép bài tỉ này là làm cho ý tứ, tình cảm tuôn chảy thành dòng mạnh mẽ nhất quán.
Mới đây, tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp cùng Viện Nhân học Văn hóa và Hội đồng họ Trịnh Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học “Họ Trịnh trong tiến trình lịch sử Việt Nam”. Tại sự kiện này, các tác giả, nhà văn, nhà nghiên cứu đã trình bày những bài viết về vai trò, vị trí cũng như đóng góp của các danh nhân họ Trịnh trong tiến trình lịch sử nước ta; Đáng chú ý là các di sản văn hóa, đóng góp về sáng tác thơ văn còn lưu danh hậu thế. Tham dự hội thảo này, BTV Võ Hà đã có ghi nhận về dấu ấn danh nhân Trịnh tộc trong dòng văn học dân tộc.
Tận đến những năm 70-80 của thế kỷ XX, nhân loại mới nhận thức rõ hơn vai trò trung tâm của phụ nữ trong tình yêu và hôn nhân, vậy mà ở thế kỷ XVIII Nguyễn Du thông qua quá trình tái hiện tâm lý nhân vật Thúy Kiều trong mối tình với Kim Trọng đã xây dựng một hình mẫu phụ nữ chủ động và bản lĩnh trong lựa chọn và ứng xử trong tình yêu.