Không phải tự nhiên mà đương thời và hậu thế đều nhận định “Truyện Kiều” thấm đẫm triết lý Phật giáo. Đại thi hào Nguyễn Du đã dày công xây dựng và khắc họa cuộc đời, số phận của nàng Kiều suốt 15 năm lưu lạc. Trong đó, ba lần gửi mình nơi cửa Phật đã quyết định đến lựa chọn buổi đoàn viên của Thúy Kiều. Có thể nói so với tác phẩm gốc là “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, coi việc Thúy Kiều gửi mình nơi cửa Phật là do hoàn cảnh đẩy đưa mà phải chấp nhận, “Truyện Kiều” đi sâu vào nhận thức về Phật pháp của chủ thể.
Trong hai tác phẩm “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du và “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, cách xây dựng nhân vật Thúy Kiều ở phương diện tu hành có những nét trái ngược nhau. Điều kiện tu hành và con đường nhận thức về Phật giáo của nhân vật Thúy Kiều ở hai tác phẩm cho thấy ý đồ xây dựng nhân vật của mỗi tác giả.
Trong "Truyện Kiều" có câu tả khí phách Từ Hải: “Giang hồ quen thú vẫy vùng/ Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”. Xuất xứ chữ “Gươm đàn" trong câu thơ ra sao, chương trình "Tìm trong kho báu" đã có những giải mã.
Với vẻ đẹp và giá trị lan tỏa, “Truyện Kiều” và cuộc đời, sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành đề tài quen thuộc trong sáng tác thơ ca hiện đại. Những sáng tác xoay quanh đề tài này đã được tập hợp trong ấn phẩm “Thơ lục bát về Nguyễn Du - Truyện Kiều và lời bình” do Liên hiệp các CLB thơ lục bát Việt Nam phối hợp với Hội Kiều học Việt Nam thực hiện. Cùng với các tác giả Hoàng Xuân Khóa, Đỗ Trung Minh và nhóm viết lời bình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Đinh Thiên Hương tham gia vào quá trình biên soạn ấn phẩm này. Ông đã có những trao đổi với BTV chương trình về cuốn “Thơ lục bát về Nguyễn Du - Truyện Kiều và lời bình”.
Theo thống kê, “Truyện Kiều” hiện có trên 100 bản Nôm và quốc ngữ với nhiều khảo dị. Gần đây nhất, có hai bản Kiều được công bố và thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng. Một là bản “Kim Vân Kiều” do học giả Nguyễn Văn Vĩnh dịch và chú giải ra quốc ngữ, in năm 1923, mới được Nhã Nam phát hành kèm bộ tranh minh họa của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm. Thứ hai là “Truyện Kiều” bản Tiên Điền do Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền cùng Hội Kiều học Việt Nam tổ chức xuất bản và hiệu đính. Công trình được đánh giá quy tụ tinh hoa từ các nghiên cứu Kiều trong suốt 160 năm qua, nổi bật với hệ thống phân đoạn khoa học, chú giải dễ hiểu và in kèm tranh minh họa. Ấn bản khổ lớn, in giới hạn 1.000 cuốn. Mỗi cuốn đều được đánh số riêng, có chữ ký và đóng dấu của dòng họ để phục vụ công tác sưu tầm, lưu giữ. Xung quanh ấn bản này, trao đổi với BTV chương trình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Đinh Thiên Hương đã có những đánh giá riêng.
Với sự biến hóa ngôn ngữ cùng với trái tim nhiều cảm xúc, mỗi thủ pháp, dụng ý nghệ thuật trong “Truyện Kiều” đều mang dấu ấn tài năng và tâm hồn của Đại thi hào Nguyễn Du. Màu sắc phong phú, đa dạng và đầy sáng tạo trong kiệt tác văn học dân tộc được xem như một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc.
Màu sắc trong văn học chẳng những là phương tiện miêu tả thế giới, mà còn là phương tiện thể hiện cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc đời, mang đậm màu sắc thời đại và cá tính. Màu sắc trong tác phẩm có thể giàu, nghèo, đậm, nhạt, thực, ảo… phụ thuộc vào cái nhìn của nghệ sĩ. Xét riêng về mặt này “Truyện Kiều” cũng cho thấy những bằng chứng về sáng tạo độc đáo của thi hào Nguyễn Du. Khi so sánh có thể thấy “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân (bản dịch của Nguyễn Đình Diệm) có khoảng 106 lần sử dụng các từ chỉ màu sắc, chiếm 0,10%. Trong khi đó “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có khoảng 119 lần sử dụng từ chỉ màu sắc, chiếm 0,52%. Như vậy, ngôn ngữ màu sắc của “Truyện Kiều” phong phú hơn màu sắc trong tác phẩm của Thanh Tâm tài nhân gấp 5 lần. Tỷ lệ này một phần do đặc điểm ngôn ngữ thể loại quy định.
Với “Truyện Kiều”, Đại thi hào Nguyễn Du tập trung khắc họa nhân vật Thúy Kiều trong hình tượng người phụ nữ cá tính với vai trò chủ thể của tác phẩm. Ý niệm về giới, về nữ quyền của Nguyễn Du gắn liền với chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo hậu kỳ trung đại. Nhân vật Thúy Kiều dưới cái nhìn nữ quyền được soi chiếu qua hình tượng một bậc tài nữ cá tính.
Không chỉ xây dựng nhân vật “con buôn” Mã Giám Sinh, trong “Truyện Kiều”, Đại thi hào Nguyễn Du chú tâm khắc họa các nhân vật làm nghề buôn bán lừa đảo, phi pháp, bất chính. Tác phẩm đã định nghĩa về con buôn: “Khác màu kẻ quý người thanh/ Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn”.
Trong “Truyện Kiều” có một dạng nhân vật dù xuất hiện không nhiều và xuyên suốt nhưng cũng để lại ít nhiều những ấn tượng. Đó là nhân vật thương gia. Cùng kinh doanh bằng cách mua bán hàng hóa, cụ thể là mua rẻ bán đắt để ăn giá chênh lệch, nhưng người Việt ta nói chung cũng như Đại thi hào Nguyễn Du nói riêng đã phân biệt hai loại người làm nghề đó. Một dạng là làm ăn đàng hoàng, thường là có vốn lớn, được gọi là thương gia, còn dạng kia là mua đi bán lại, khá manh mún, chụp giật để kiếm chênh lệch được gọi là con buôn. Thương gia và con buôn cái khác nhau về hình thức, đạo đức kinh doanh.
Có thể nói, sự xuất hiện của tín hiệu thẩm mỹ “hoa” trong “Truyện Kiều” là một điều tuyệt diệu. Hoa đã giúp Nguyễn Du phác họa nên chân dung, cuộc đời và số phận của nàng Kiều, góp phần không nhỏ làm nên thành công của nghệ thuật ngôn ngữ Nguyễn Du.
Ít có nhân vật nào có nhiều cảnh ngộ éo le và tâm tư phong phú như Kiều, cũng ít có tác giả nào gắn bó với nhân vật của mình sâu sắc như Nguyễn Du. Trong “Truyện Kiều”, nhiều lần tác giả sử dụng hình ảnh “hoa” để biểu thị và dự cảm về số phận nàng. Đó là những biến cố, bất hạnh mà nàng phải trải qua, khiến một nhan sắc khuynh thành nơi khuê phòng cũng trở nên dạn dày sương gió cuộc đời.
Trong tác phẩm “Truyện Kiều”, Đại thi hào Nguyễn Du nhiều lần sử dụng hoa như một cách liên tưởng tới vẻ đẹp trong trắng của người con gái đương thì xuân sắc. Trong một số trường hợp, tín hiệu thẩm mỹ hoa được sử dụng hết sức tài tình, khéo léo và rất độc đáo.
Trong tác phẩm “Truyện Kiều”, Đại thi hào Nguyễn Du nhiều lần sử dụng từ “hoa” như một tín hiệu thẩm mỹ. Trong đó phần nhiều “hoa” được dùng để quy chiếu đến hình ảnh người phụ nữ. “Hoa” trong Truyện Kiều được biến hóa tài tình, giàu hình ảnh và giàu sức gợi, được sử dụng cân nhắc có chọn lọc một cách điêu luyện.
Sự điêu luyện, tinh tế trong cách sử dụng ngôn từ của Đại thi hào Nguyễn Du là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến “Truyện Kiều” tồn tại năm tháng cùng dân tộc, gắn bó với đời sống nhân dân. Tả người, tả cảnh, tả tình, từ những suy nghĩ thầm kín đến những hành động hằng ngày, từ những điều đẹp đẽ, trân trọng đến những chuyện tưởng chừng như khó nói, Đại thi hào Nguyễn Du đều thể hiện một cách chính xác không gò ép, không gượng gạo. Với “Truyện Kiều”, tiếng Việt thể hiện hết sự đẹp đẽ, trong sáng, mềm mại uyển chuyển, tác giả đã hoàn toàn chủ động tạo ra nhiều màu sắc đậm đà, sinh động và dễ cảm nhận. Hình ảnh “hoa” trong thiên nhiên xuất hiện nhiều trong tác phẩm. Bên cạnh đó, hoa còn là biểu trưng cho tình yêu, cho sự phong tình.