Như chúng ta đã biết, truyện thơ 'Lục Vân Tiên' của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu là tác phẩm được đặc biệt yêu thích ở Nam Bộ. Tác phẩm này đi vào tục ngữ, ca dao, dân ca, trở thành một loại hình diễn xướng đặc biệt: 'Nói thơ Vân Tiên'. Từ đó, đã được tái sinh trong nhiều loại hình văn nghệ khác: Thơ hậu Vân Tiên, thơ nhại Vân Tiên, tranh Vân Tiên, vọng cổ, cải lương, tuồng, điện ảnh... tạo thành một 'trường văn hóa' Lục Vân Tiên.
Từ lâu truyện thơ “Lục Vân Tiên” của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã được người bình dân, đặc biệt là ở vùng đất Nam Bộ đặc biệt yêu mến. Không chỉ truyền tụng rộng rãi những câu thơ tâm đắc, dân gian xứ sở này còn vận dung, sáng tạo nên những câu ca lấy cảm hứng từ tính cách và số phận các nhân vật trong tác phẩm này.
Từ lâu, cuộc đời và trước tác của nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã thành giai thoại, thành nguồn cảm hứng trong văn nghệ dân gian, quần chúng quảng đại ở vùng đất Nam bộ. Tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu – truyện thơ Lục Vân Tiên có âm vang và sức lan tỏa hết sức sâu rộng ở vùng đất này. Không chỉ “trường văn hóa” Lục Vân Tiên, tái sinh trong nhiều loại hình văn nghệ khác: thơ hậu Vân Tiên, thơ nhại Vân Tiên, tranh Vân Tiên, vọng cổ, cải lương, tuồng, điện ảnh… mà nhiều tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng được mến mộ khi ghi đậm dấu ấn phẩm chất và tinh thần của người Nam Bộ trước thời thế và cuộc đời.
Trong đời sống thường ngày, chúng ta bắt gặp những câu ca dao, tục ngữ có ý nghĩa tương tự, chỉ sai khác một số từ, ngữ. Theo thời gian, những câu dễ đọc, dễ hiểu hơn sẽ trở nên thông dụng. Một câu ca dao có nhiều dị bản cũng là hiện tượng phổ biến. Một phần nguyên do của hiện tượng này cũng do bản sắc, cách diễn đạt, cách nói của từng địa phương, vùng miền. Điều này cũng phản ánh sáng tạo của dân gian, sự gần gũi, thân thuộc của ca dao trong đời sống thường ngày. Bài ca dao “Cổ tay em trắng như ngà” có một số dị bản, chỉ khác nhau một vài từ ngữ. Thạc sỹ Khoa Thị Điển, nguyên Tổ trưởng Tổ Lý luận văn học, thuộc khoa Xã hội trường Cao đẳng Sư phạm (nay là Đại học Đồng Tháp) cho rằng đây là một bài ca dao hay nói về vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống. Tuy nhiên, ở câu kết, hình ảnh đúng phải là “cái khăn” thay vì “cái nón” thì mới hợp lý.
Lâu nay, “Truyện Kiều” vẫn được coi là di sản văn hóa vô giá của dân tộc ta. Chính vì lòng yêu mến, quý trọng kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du mà nhiều nhà văn hóa, ngôn ngữ, nhà văn đã phiên âm “Truyện Kiều” ra Quốc ngữ. Công việc này đòi hỏi tuân thủ các quy tắc chính tả để giúp bạn đọc tiếp cận và hiểu rõ hơn nội dung của một truyện thơ dài. Tuy nhiên, tới nay, các bản phiên âm “Truyện Kiều” ra Quốc ngữ chưa nhất quán về quy tắc chính tả, dấu câu, cách trình bày. Chính vì lẽ đó, mới đây Hội Kiều học Việt Nam phối hợp với Hội đồng Gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền và Viện Nghiên cứu danh nhân đã tổ chức tọa đàm khoa học về chủ đề “Tìm kiếm phương án tối ưu cho việc trình bày văn bản Quốc ngữ Truyện Kiều”.
Trong cuộc sống của mỗi con người, điều quý nhất là phải có một nhân cách, phẩm chất tốt. Vẻ đẹp về nhân cách đã được các tác giả dân gian thể hiện qua các câu ca dao rất ngắn gọn, súc tích. Đặc biệt là những câu ca dao thể hiện hình ảnh hoa trái. Khi nhắc đến hoa, quả là nhắc tới hương thơm quyến rũ, vị ngọt nồng nàn, đa sắc, đa hương, đa màu, đa vị. Hoa trong ca dao biểu trưng cho phẩm chất cao quý, cho thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ.
Ca dao vốn ưa dùng hình ảnh biểu tượng để gửi gắm quan niệm về cuộc sống, suy ngẫm thân phận con người, về lẽ đối nhân xử thế. Neo vào hoa, vẻ đẹp hương sắc của thiên nhiên, các tác giả dân gian đã sáng tác nên những câu ca gần gũi, thân thuộc với người bình dân.
Từ xa xưa, ca dao ta đã có nhiều câu nói về rượu. Khi gắn với nghi lễ, rượu tượng trưng cho việc chuẩn thuận, thề nguyền; khi gắn với lạc thú, rượu như một vị chủ không thể thiếu; khi xét đến người đẹp, chỉ có rượu mới tương xứng để đối sánh. Nhưng tác hại của rượu cũng không nhỏ nếu người uống không biết dừng lại ở mức cần dừng. Trong những dịp cúng lễ, lễ lạt, hiếu hỉ, và đặc biệt là vào dịp Tết, rượu thường được nhắc đến, và có khi trở thành quan trọng hàng đầu: "Vô tửu bất thành lễ". Rượu gắn với giới tao nhân mặc khách. "Cầm kì thi tửu", "bầu rượu túi thơ", Lưu Linh viết "Tửu đức tụng" (tán tụng công đức của làng rượu), Lí Bạch không chỉ là “thi tiên" mà còn được gọi là “tửu tiên", Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Ba Quát... đều sành rượu và có thơ ca ngợi rượu, là vài minh chứng. Ca dao bàn về rượu, ở một chừng mực nào đó phản ánh phong tục, quan niệm của người Việt về một thức uống có lịch sử lâu đời và mang tính toàn cầu.
Từ xa xưa, người Việt ta đã sử dụng ca dao như một phương thức hữu hiệu để thổ lộ nỗi lòng, kể chuyện, sẻ chia kinh nghiệm hoặc khuyên nhủ về đạo lý làm người. Trong đó, vi diệu và cũng đầy ý tứ là những câu ca dao tỏ bày tình yêu đôi lứa.
Từ nhiều đời nay, tranh dân gian có nhiều hoạt cảnh, ca dao, thành ngữ của ta cũng có nhiều câu đề cập tới tâm lý sở hữu và ghen tuông trong tình yêu và hôn nhân.
Từ xa xưa, các tác giả dân gian đã dùng nhiều cách biểu đạt khoa trương trong ca dao. Không chỉ sử dụng số từ, động từ mà thành ngữ còn xuất hiện trong nhiều câu ca. Nhờ đó, ca dao trở nên sinh động về mặt ngôn từ, sâu sắc về mặt ngữ nghĩa.
Từ xa xưa, các tác giả dân gian đã có nhiều cách biểu đạt ý tưởng, cảm xúc hết sức tinh tế và độc đáo. Một trong những cách thức ấy là việc sử dụng đại từ “Ai” trong nhiều câu ca dao. Khi cất lên thành những lời ru, hiệu ứng của nét nghệ thuật này được phát huy một cách đậm nét và đầy biểu cảm. Tác giả Hà Phương đã có cảm bình về tiếng “ai” trong những lời ru.
Trong tiếng Việt, khi cần nhấn mạnh làm nổi bật đặc trưng, tính chất của đối tượng, người ta cố tình nói quá sự thật; việc nói quá ở đây có thể là phóng to hoặc thu nhỏ đối tượng cần miêu tả. Lối nói này được gọi là khoa trương. Nhiều câu ca dao truyền miệng cũng sử dụng đắc địa lối nối khoa trương, tạo được những hiệu ứng nhất định.
Ca dao phản ánh tiếng nói của quần chúng đối với các hiện tượng trong xã hội đương thời. Thái độ bình phẩm, phán xét của công luận hiển hiện rõ nét và “Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Nói như vậy để thấy ca dao liên quan đến lịch sử Việt Nam là “tấm bia miệng” để đời, là tấm gương cho nhiều thế hệ soi chung và bản thân những câu ca dao đó cũng là phán xét của lịch sử.