Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng là một trong những gương mặt tiêu biểu của Cách mạng nước ta giai đoạn từ đầu thế kỷ XX. Ngoài vai trò là một nhà hoạt động cách mạng, một chính khách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hậu thế còn biết đến Huỳnh Thúc Kháng với tư cách là một nhân sĩ, một tác gia tiêu biểu của dòng văn học yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cụ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm văn chương “mạnh mẽ, cứng cỏi chính bản lĩnh con người” như Thi tù tùng thoại, Thi văn với thời đại, Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử, Xã túc tập, Gia đình giáo dục, Tuồng Trưng vương bình ngũ lãnh, Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, Thi tù thảo, Đê hải thi tập, Mính Viên cận tác... Văn chương Huỳnh Thúc Kháng luôn đề cao vai trò của người dân đồng thời là vũ khí để tranh đấu với một lối thể hiện bình dân, gần gũi.

Chí sĩ yêu nước, học giả, nhà báo, nhà văn hóa Huỳnh Thúc Kháng tên thuở nhỏ là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên sinh năm 1876, quê ở làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, nay thuộc xã Thạnh Bình – Tỉnh Quảng Nam. Xuất thân trong một gia đình Nho học ở xứ Quảng vùng đất giàu truyền thống yêu nước và hiếu học, lại là người thông minh, chịu khó và có chí nên Huỳnh Thúc Kháng sớm đỗ đạt. Năm 1904, cụ đỗ đầu kỳ thi Hội và giành học vị tiến sĩ ở Huế, được dân gian tôn là “tứ hổ” của xứ Quảng lúc bấy giờ. Mặc dù sớm đỗ đạt cao và nổi tiếng nhưng Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan cho triều Nguyễn mà kết bạn tâm giao với những người đỗ đạt cao cùng chí hướng như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp để mong tìm đường cứu nước. Đường lối cứu nước mà cụ tâm đắc là cổ động cho phong trào tân học, đả phá lệ khoa cử phong kiến, kêu gọi các thân hào, thương gia ở miền Trung lập các hội thương, hội công, hội nông... nhằm góp phần canh tân đất nước. Sinh thời, cụ Huỳnh Thúc Kháng có những cống hiến quan trọng trong phong trào Duy Tân, từng giữ cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm báo Tiếng Dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngoài vai trò là một nhà hoạt động cách mạng, một chính khách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hậu thế còn biết đến Huỳnh Thúc Kháng với tư cách là một nhân sĩ, một tác gia tiêu biểu của dòng văn học yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cụ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm văn chương “mạnh mẽ, cứng cỏi chính bản lĩnh con người” như Thi tù tùng thoại, Thi văn với thời đại, Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử, Xã túc tập, Gia đình giáo dục, Tuồng Trưng vương bình ngũ lãnh, Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, Thi tù thảo, Đê hải thi tập, Mính Viên cận tác...
Một trong những lý thuyết có ảnh hưởng lớn tới văn học hiện đại là Lý thuyết thông tin, ra đời năm 1948. Thật ngạc nhiên là những vấn đề mà Lý thuyết thông tin trong Văn học hiện đại của văn học thế giới thế kỷ 21 đã được Đại thi hào Nguyễn Du thực hành cách đây hơn 200 năm với Truyện Kiều. Truyện Kiều không phải văn xuôi nhưng đã thực hiện Lý thuyết thông tin trong việc kể lại nhân vật được nhiều nguồn phát ra để bảo đảm tính chân thực, là Thúy Kiều ở nhiều góc nhìn, nhiều thời điểm khác nhau trên một chân dung cụ thể.
Ngôn ngữ “Truyện Kiều” được cá tính hoá cao độ, nhân vật nào ngôn ngữ ấy, không thể lẫn lộn. Tính cá thể hoá trong ngôn ngữ “Truyện Kiều” đã góp phần tạo nên một thế giới nhân vật “sống” và “thật” như ở ngoài đời. Chính vì vậy, nói như Giáo sư văn học Lê Đình Kỵ: “các nhân vật như nàng Kiều, Sở Khanh hay Hoạn Thư trở thành một danh từ chung bất hủ mà Nguyễn Du đã đóng góp vào vốn từ vựng Việt Nam”.
Thành công của kiệt tác “Truyện Kiều” trước hết phải kể đến vai trò của ngôn ngữ. Đại thi hào Nguyễn Du được xem là “bậc thầy ngôn ngữ của dân tộc”. Tính cá thể hóa của ngôn ngữ là một đặc điểm nổi trội của “Truyện Kiều”. Trong văn chương, tính cá thể hóa được xem là yếu tố tự nhiên góp phần tạo nên nét riêng của mỗi tác phẩm, mỗi nhà văn. Đặc điểm này được thể hiện trên nhiều bình diện, cấp độ như cách dùng từ, đặt câu, miêu tả, trần thuật, sử dụng hình ảnh hay xây dựng hình tượng nghệ thuật… Trong “Truyện Kiều”, tính cá thể hóa được thể hiện rõ nét nhất qua ngôn ngữ của tác giả khi viết về nhân vật và ngôn ngữ của chính các nhân vật trong tác phẩm.
Kế thừa, phát huy được những khuynh hướng sáng tạo ngôn ngữ khác biệt, độc đáo, trong đó có việc sử dụng tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Đại thi hào Nguyễn Du đã đưa “Truyện Kiều” trở thành mẫu mực có một không hai của nền văn học trung đại nước ta.
Đại thi hào Nguyễn Du quê Hà Tĩnh, sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, sinh thời ông sống nhiều vùng quê từ Phú Xuân ra Bắc Hà. Vì có những thời gian về tá túc tại Hà Tĩnh, có khi liên tục tới sáu năm trời nên ông hiểu tiếng Nghệ và trong sáng tác văn chương, thi thoảng ông có dùng một ít từ Nghệ có chọn lọc. Số lượng tiếng Nghệ Tĩnh trong Truyện Kiều khá ít, chắc đếm chưa hết trên đầu ngón tay và có một số từ hết sức đặc trưng mà chỉ người địa phương mới thông tỏ.
Hội thoại trong đời thường lẫn trong tác phẩm văn học đều có những quy tắc riêng làm cơ sở, đứng đằng sau sự vận hành. Trong buổi “Tìm trong kho báu” số trước, chúng ta đã cùng tìm hiểu về quy tắc điều hành luân phiên lượt lời trong phân cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán. Quy tắc này quy định trong một cuộc thoại bình thường thì mỗi lần chỉ có một người nói, trật tự (nói trước, nói sau) của những người nói không cố định mà luôn thay đổi. Thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị giẫm đạp lên nhau. Cũng trong phân cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán, Đại thi hào Nguyễn Du còn áp dụng quy tắc điều hành nội dung của hội thoại. Quy tắc này chủ yếu thể hiện sự cộng tác trong hội thoại. Nguyên tắc cộng tác gồm có bốn phương châm là phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ và phương châm cách thức.
Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được tìm hiểu, nghiên cứu ở nhiều phương diện, từ thời điểm sáng tác, tựa đề… cho đến ngôn ngữ, hình tượng nhân vật…Trong đó nhiều nội dung của tác phẩm chỉ thực sự thấu tỏ khi được soi chiếu dưới điểm nhìn hội thoại. Hội thoại đã được vận dụng ra sao trong “Truyện Kiều”, thể hiện tính cách nhân vật và tài năng của Đại thi hào Nguyễn Du như thế nào? Nhà giáo Phan Thị Thanh Thủy đã có những phân tích về sự thể hiện của một số quy tắc hội thoại chủ yếu ở một số đoạn thoại tiêu biểu trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Chúng ta cùng tìm hiểu về quy tắc điều hành luân phiên lượt lời trong màn báo ân báo oán của Thúy Kiều.
Suốt 15 năm lưu lạc, Thúy Kiều luôn nặng lòng, đăm đăm nỗi thương nhớ mẹ cha cùng người thân ở chốn quê nhà. Để rồi khi đứng trước lựa chọn ở lại Thảo am hay trở về, nàng đã vì chữ Hiếu mà thuận theo mong mỏi của hai đấng sinh thành.
Không phải tự nhiên mà đương thời và hậu thế đều nhận định “Truyện Kiều” thấm đẫm triết lý Phật giáo. Đại thi hào Nguyễn Du đã dày công xây dựng và khắc họa cuộc đời, số phận của nàng Kiều suốt 15 năm lưu lạc. Trong đó, ba lần gửi mình nơi cửa Phật đã quyết định đến lựa chọn buổi đoàn viên của Thúy Kiều. Có thể nói so với tác phẩm gốc là “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, coi việc Thúy Kiều gửi mình nơi cửa Phật là do hoàn cảnh đẩy đưa mà phải chấp nhận, “Truyện Kiều” đi sâu vào nhận thức về Phật pháp của chủ thể.
Trong hai tác phẩm “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du và “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, cách xây dựng nhân vật Thúy Kiều ở phương diện tu hành có những nét trái ngược nhau. Điều kiện tu hành và con đường nhận thức về Phật giáo của nhân vật Thúy Kiều ở hai tác phẩm cho thấy ý đồ xây dựng nhân vật của mỗi tác giả.
Trong "Truyện Kiều" có câu tả khí phách Từ Hải: “Giang hồ quen thú vẫy vùng/ Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”. Xuất xứ chữ “Gươm đàn" trong câu thơ ra sao, chương trình "Tìm trong kho báu" đã có những giải mã.
Với vẻ đẹp và giá trị lan tỏa, “Truyện Kiều” và cuộc đời, sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành đề tài quen thuộc trong sáng tác thơ ca hiện đại. Những sáng tác xoay quanh đề tài này đã được tập hợp trong ấn phẩm “Thơ lục bát về Nguyễn Du - Truyện Kiều và lời bình” do Liên hiệp các CLB thơ lục bát Việt Nam phối hợp với Hội Kiều học Việt Nam thực hiện. Cùng với các tác giả Hoàng Xuân Khóa, Đỗ Trung Minh và nhóm viết lời bình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Đinh Thiên Hương tham gia vào quá trình biên soạn ấn phẩm này. Ông đã có những trao đổi với BTV chương trình về cuốn “Thơ lục bát về Nguyễn Du - Truyện Kiều và lời bình”.