Sinh thời, nhà thơ, nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu và bạn đời – Bà Lê Thị Điền có tất cả 6 người con: 3 người con trai và 3 người con gái. Trong đó, nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (con gái, thứ tư) và Nguyễn Đình Chiêm (con trai, thứ năm) đều là người có tiếng trong giới văn nghệ. Nếu như Nguyễn Đình Chiêm, còn gọi là thầy Bảy Chiêm ngoài sáng tác và dịch thơ còn là tác giả các vở tuồng hát hội: “Phong ba đình”, “Phấn trang lâu” có giá trị văn chương thì người chị Sương Nguyệt Anh là một trang nữ lưu được người đương thời trọng vọng. Sách “Nam Kỳ cố sự” của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu có phần viết về người con gái tài sắc của cụ Đồ Chiểu.
Sau khi đỗ Tú tài trong kỳ thi hương 1843 tại Gia Định, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ngược ra kinh đô Huế để tham dự kỳ thi Hội. Dọc đường đi, nghe tin mẹ mất, là người con hiếu thảo, ông quyết định trở về quê nhà chịu tang. Trên đường về, phần vì khóc thương, đau buồn, lại không may mắc bệnh, Nguyễn Đình Chiểu bị mù cả hai mắt. Nhờ nghề thuốc học được trong thời gian lưu lại tư gia một thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y, về đến quê nhà, ông mở trường dạy học, bốc thuốc giúp người nghèo. Trong số các học trò của Đồ Chiểu, có Lê Tăng Quýnh vốn mồ côi cha mẹ, cảm kích tài năng và đức độ của người thầy mù lòa đã se duyên cho người em gái là Lê Thị Điền. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu từ đó về sau dù trải qua nhiều biến cố luôn có sự chăm sóc, sát cánh của người vợ tào khang:
Mới đây tại thủ đô Paris (nước Pháp), trong khuôn khổ kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 41, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa thuộc Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã thông qua nghị quyết: năm 2022 sẽ cùng Việt Nam kỷ niệm ngày sinh/ngày mất của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương và Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu. Trong năm qua, chuyên đề thơ Nôm của chương trình “Tìm trong kho báu” đã dành thời lượng đáng kể để lần giở lại di sản thơ Nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Nhân sự kiện UNESCO vinh danh nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta cùng điểm lại những đóng góp cho văn học dân tộc thông qua các thành tựu trong sáng tác của một tác gia yêu nước, người được xưng tụng là bậc tôn sư của đất phương Nam.
Thời Lê trung hưng ghi đậm dấu ấn của nhiều danh nhân đỗ đạt cao, được phong nhiều chức tước quan trọng trong triều đình và để lại nhiều trước tác thơ ca có giá trị. Có thể kể đến Phùng Khắc Khoan, đỗ tiến sĩ đời vua Lê Thế Tông, trải qua nhiều chức vụ như Tả thị lang bộ công, Thượng thư bộ công, Thượng thư bộ hộ. Ông là con người có khát vọng hào kiệt, nổi tiếng là người có chí khí hào mại, có cống hiến trên nhiều phương diện như: quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn học. Phùng Khắc Khoan để lại bốn tập thơ chữ Hán có giá trị. Về sáng tác thơ Nôm thời kỳ này nổi lên tài năng của Nguyễn Văn Giai. Ông thi đỗ Tam nguyên Hoàng giáp, từng giữ chức Tể tướng, tước Thái bảo, Quận công đời vua Lê Kính Tông. Nếu làm quan nổi tiếng thanh liêm thì khi sáng tác thơ Nôm, Nguyễn Văn Giai có cái cười trào tiếu và triết lý thâm thuý về mọi sự ở đời. Tuy số lượng trước tác để lại không nhiều nhưng ông cũng cho thấy một phong cách nhà nho tài tử độc đáo.
Với độ dài dài 340 liên (tức 640 câu), truyện thơ Nôm “Sãi vãi” được viết vào năm Canh Ngọ (1750), khi Nguyễn Cư Trinh bắt đầu nhậm chức Tuần vũ Quảng Ngãi. Thông qua cuộc đối thoại giữa hai nhân vật ông sãi và bà vãi nơi cửa Chùa, tác phẩm khuyên răn quan quân, động viên binh sĩ, phủ dụ dân miền Thượng, một cách văn trị của vị Tuần vũ mới. Cũng qua “Sãi vãi”, danh tướng Nguyễn Cư Trinh cho thấy cái nhìn đối với Phật giáo, đồng thời đề cao Nho giáo, châm biếm tà đạo, răn giới tầng lớp Nho sĩ về đạo lý “tu, tề, trị, bình” trong hoàn cảnh chế độ phong kiến ở Đàng trong đã suy vi, mục nát
Dòng thơ Nôm của dân tộc ta đã ghi nhận nhiều tác giả tên tuổi vốn xuất thân khoa cử, ra làm quan, có những công trạng lớn lao trong kế sách củng cố vị thế của các triều đại phong kiến. Danh tướng Nguyễn Cư Trinh là một trong số đó. Chương trình “Tìm trong kho báu” hôm nay tìm về với dấu ấn cuộc đời và sáng tác của vị tướng trấn giữ biên cương từng góp phần to lớn trong công cuộc Nam tiến của các Chúa Nguyễn.
Dòng thơ Nôm của dân tộc ta đã ghi nhận nhiều tác giả tên tuổi vốn xuất thân khoa cử, ra làm quan, có những công trạng lớn lao trong kế sách củng cố vị thế của các triều đại phong kiến. Danh tướng Nguyễn Cư Trinh là một trong số đó. Chương trình “Tìm trong kho báu” hôm nay tìm về với dấu ấn cuộc đời và sáng tác của vị tướng trấn giữ biên cương từng góp phần to lớn trong công cuộc Nam tiến của các Chúa Nguyễn.
"Sách Thiền sư Việt Nam chép rằng, Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, hiệu Liên Hoa là nhà sư đầu tiên ở miền Nam được phong Quốc sư. Vào những năm cuối đời vì muốn trốn tránh tấm tình của công chúa Ngọc Anh, ông đã từ kinh đô Huế về sống và tu tập ở ngôi chùa này. Nhưng rồi cuối cùng, Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt vẫn phải chịu một kết cục bi thương từ nghiệp duyên này.
Số trước của “Tìm trong kho báu” đi vào nội dung thơ Nôm Phật giáo dưới triều Lê ở nước ta, đồng thời tìm hiểu thân thế và tác phẩm của Hương Hải thiền sư – người có công phục hưng phái thiền Trúc Lâm đã có từ thời Nhà Trần. Chương trình hôm nay bên cạnh câu chuyện hàng phục yêu ma của Hương Hải thiền sư, mời Quý vị và các bạn cùng lần tìm lại di sản sáng tác Quốc âm của Chân Nguyên thiền sư và dấu ấn thơ Nôm Phật giáo triều Nguyễn
Sau thời thuộc Minh, Phật giáo nước ta dần dần chuyển hoá và từng bước phát triển theo chiều rộng, tông phái đứt đoạn nhưng cội rễ thêm sâu trong lòng văn hoá dân tộc. Tuy dưới triều Lê sơ, Nho giáo thịnh trị nhưng Phật giáo vẫn chiếm địa vị cao trong văn đàn. Các tác giả vẫn ưa sáng tác thơ ca mang hơi hướng nhà Phật và được công chúng đón nhận. Buổi “Tìm trong kho báu” hôm nay phác họa về thơ Quốc âm triều Lê, đi sâu vào một tác giả tiêu biểu là Hương Hải thiền sư
Mười thế kỷ của văn học trung đại đã trải dấu ấn của nhiều đề tài, phong cách sáng tác làm nên kho báu di sản đồ sộ, đáng tự hào của dân tộc ta. Riêng với dòng thơ Nôm đã manh nha từ thời Lý rồi phát triển ở thời Trần đã ghi nhận các tác giả lớn như Phật hoàng Trần Nhân Tông, Thiền sư Huyền Quang – Lý Đạo Tái. Từ đó, hình thành nên dòng thơ Nôm của các Thiền sư, của người tu hành thông qua các bài phú, bài kệ, những bài thơ Đường luật Quốc âm. Chương trình “Tìm trong kho báu” hôm nay lật giở lại ngọn nguồn của dòng thơ Nôm thiền sư với những giá trị độc đáo.
“Giáo tử phú” của Mạc Đĩnh Chi được coi là một trong những áng thơ Nôm cổ nhất còn lưu lại tới hôm nay. Điều đó cho thấy từ rằng ngay từ buổi ban sơ, thơ ca Quốc âm đã hướng tới việc định hình nhân cách con người từ việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống. Phương thức dạy con qua thơ ca Quốc âm tiếp nối qua nhiều thế hệ nhà nho thời trung đại. Ngô Phúc Lâm, một nho tướng xuất thân từ là gia tộc hiển hách đất Trảo Nha thời Lê Trung Hưng cũng có một chùm bài dạy con có nhan đề “Huấn tử thi”.
Bên cạnh những tên tuổi lớn như Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều thì dòng thơ Nôm thời Lê trung hưng còn ghi nhận những tác giả như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tích, Nguyễn Hữu Cầu, các đời chúa Trịnh. Chương trình “Tìm trong kho báu” hôm nay điểm lại những phong cách, dấu ấn làm nên diện mạo của một giai đoạn lịch sử nhiều biến cố.
Ngoài sự nghiệp chính trị, Lê Quý Đôn còn để lại cho đời sau một di sản tinh thần vô cùng quý giá, bao gồm gần 40 bộ sách mà nội dung đề cập đến hầu hết mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, triết học, lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, văn học… Trong đó có nhiều bộ nổi tiếng như: Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục, Vân đài loại ngữ, Quần thư khảo biện, Dịch kinh phu thuyết, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt văn hải... Tác phẩm của Lê Quý Đôn phần lớn được viết bằng chữ Hán. Ngoài ra, ông cũng sử dụng chữ Nôm để sáng tác văn học, để mô tả các giống lúa, cây cỏ hoặc diễn giải, chú thích các bộ kinh điển Nho học như Tứ thư ước giải, Thư kinh diễn nghĩa. Về sáng tác thơ ca, ông để lại tập thơ chữ Hán “Quế Đường thi tập” và một số sáng tác bằng chữ Nôm.