
Truyện ngắn “Vĩ thanh” gây ấn tượng với người đọc, người nghe ngay từ tiêu đề của tác phẩm, nó gợi về những dư âm, dư ba còn vương mãi về chuyện tình cảm của nhân vật Quân và Loan. Những dòng quá khứ hiện về khi tình cơ Quân gặp lại Loan trong một tình huống hết sức trớ trêu, Quân bị tai nạn trong một lần đi công tác và chính Loan là bác sĩ đã phẫu thuật kịp thời cứu Quân. Nhận ra người mà mình đem lòng yêu mến, dành nhiều tình cảm năm xưa, Quân lại cảm thấy day dứt và ân hận. Ngày ấy, Quân là thầy giáo của trường đại học sư phạm và Loan là sinh viên năm nhất khoa toán, nhưng chỉ vì một phút dại dột, Loan lấy cái bút máy của bạn để về cho em. Loan bị hiệu trưởng kỷ luật, buộc thôi học. Quân không bảo vệ được người bạn gái và thậm chí còn trốn chạy trước những luồng dư luận không hay về Loan và cả anh nữa. Từ đó hai người bặt tin nhau và mấy chục năm sau gặp lại, chính Loan là ân nhân cứu Quân thoát chết. Tình huống truyện bất ngờ, kịch tính, tạo ra những khoảng day dứt, ám ảnh của nhân vật Quân. Lẽ ra anh phải bảo vệ bạn gái của mình? Lẽ ra anh nên đối diện với tất cả nhưng tại sao anh lại trốn chạy? Những ý nghĩ đó khiến Quân đau khổ và càng ân hận khi gặp lại Loan – bây giờ là một bác sĩ giỏi, đã cứu anh thoát nạn. Nhân vật Loan khiến người đọc, người nghe dành sự cảm phục, yêu mến, trân trọng. Câu chuyện của họ đã khép lại bằng một cái kết có hậu, khi Quân đã nói với Loan những điều đáng ra anh phải nói cách đây mấy chục năm. Dẫu muộn màng nhưng câu chuyện về họ vẫn khiến chúng ta xúc động. Tình người, tình đời vẫn luôn ấm áp chứa chan, cho chúng ta niềm tin và hy vọng vào cuộc sống vốn rất nhiều gập ghềnh và trắc trở. Truyện ngắn “Vỹ thanh” của nhà văn Hồ Ngọc Quang đã mang lại cảm giác nhẹ nhõm và gieo vào lòng những niềm tin yêu chân thành…(Lời bình của BTV Vân Khánh)
Người Việt ta xưa vốn ưa lối giao tiếp khéo léo, lễ nghĩa, kín đáo, nhuần nhị nhưng cũng không kém phần hóm hỉnh, hài hước. Chúng ta hãy thử ngẫm lại mấy câu ca sau: “Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa/ Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Mượn hình ảnh các loài cây, hoa đặc trưng, rõ ràng người xưa đã rất ý nhị trong cách tỏ tình và đáp lời. Trong kho tàng ca dao không ít những câu sử dụng nghệ thuật ẩn dụ về người lao động với nhiều cung bậc cảm xúc và cách thể hiện vô cùng phong phú.

Với những ai đã là độc giả trung thành của nhà văn Tống Ngọc Hân, “Bức nude thứ 9” là một truyện ngắn có phần khác lạ. Trong tác phẩm này, nữ nhà văn không khai thác các yếu tố phong tục tập quán của đồng bào vùng núi mà bước thẳng vào đời sống đô thị, cụ thể hơn là đi sâu vào đời sống hôn nhân của Triển và vợ. Hai người tới với nhau đúng theo mô típ người đẹp và đại gia nhưng đây không phải là một cuộc trao đổi xác thịt tình tiền. Liền lấy chồng có thể không có tình yêu, nhưng cô có lòng biết ơn với người đàn ông đã cứu cả gia đình mình. Chỉ khi sống chung, những khác biệt, xô lệch mới dần trở nên rõ ràng, khiến một người sống trong tủi nhục, một kẻ lòng đầy hoài nghi. Hôn nhân của họ chỉ còn trên danh nghĩa…Là một người viết văn có nghề, không lạ khi với truyện ngắn này, Tống Ngọc Hân vẫn đem đến một câu chuyện có lớp lang, kịch tính từ giây đầu tiên tới phút cuối cùng. Nhà văn vẫn phát huy được thế mạnh khi xây dựng nội tâm nhân vật, nhất là với Triển, gã đàn ông ghen tuông đến mức mù quáng. Trong khi đó, sự kiệm lời của nữ chính lại cho thấy một sự kìm nén trong lồng son gác tía. “Bức nude thứ 9” gửi gắm thông điệp về hôn nhân: khi không đủ sự tin tưởng, cuộc sống lứa đôi chẳng khác gì địa ngục. Nhưng cũng trong truyện ngắn này, độc giả còn thấy được thông điệp về nghệ thuật, về một cái Đẹp vượt lên sự tầm thường và ích kỷ. Cái Đẹp sẽ cứu rỗi thế giới, dẫu đấy là thế giới đầy rẫy những ghen tuông, áp đặt và hoài nghi của một kẻ như Triển hay là thế giới uất ức, cam chịu của những người đàn bà như Liền. (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)

Truyện ngắn chúng ta vừa nghe, như lời tác giả tâm sự, được viết từ một sự kiện có thật. Trong đêm cơn bão số 12 (tên quốc tế là Damrey) đổ vào Nam Trung Bộ năm 2017, người dân vùng An Nhơn, Phù Mỹ đã phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề. Nghiệp, nhân vật trong truyện cũng chính là tên cậu học sinh học lớp tác giả làm giáo viên chủ nhiệm. Chi tiết người mẹ đu trên cây đà cả đêm và nhà ngập gần tới nóc đều là những chi tiết có thật. Từ những chi tiết ấy, tác giả tiếp tục dựng lên một bức chân dung đầy đủ về chuyện đời của một người phụ nữ lắm đa đoan. Bị cha dượng cưỡng bức từ năm 12 tuổi, đến năm 15 tuổi chị mất mẹ và bắt đầu phải sống tự lập. Cũng trong một lần chống chọi với bão lũ và nhận được sự giúp đỡ của người đàn ông hàng xóm, chị đã cảm động đón nhận tình cảm của anh ta rồi sinh ra thằng Nghiệp, chịu bao lời xầm xì dè bỉu của dân làng, nhất là từ người vợ chính thức của anh kia bởi thằng Nghiệp lớn lên giống bố như tạc. Chị còn nhận thêm nhiều tháng ngày đau khổ tủi nhục nữa khi chọn nhầm một người đàn ông khác về làm chồng, thường xuyên phải chịu cảnh đánh đập hành hạ cho đến một ngày gã say rượu và bị nước cuốn đi. Mạch truyện đi từ thực tại về quá khứ rồi lại trở về thực tại, khi nhân vật nữ phải đối diện với cơn lũ hung dữ, khắc nghiệt. Lần này, lại vẫn là người đàn ông hàng xóm, là bố thằng Nghiệp sang cứu chị, nhưng mà là cứu trong sự giục giã hối thúc của người vợ. Dường như trong phút nguy nan sinh tử, con người ta dễ mở lòng với nhau hơn, thương cảm và chia sẻ với nhau nhiều hơn. Người đàn bà kia có lẽ không còn giận chị nữa bởi người ấy cũng đang khóc khi nhìn thấy sự nguy nan của chị. Câu chuyện vì thế có một cái kết khơi gợi sự ấm áp của tình người. Có thể thấy, tác giả đã dành rất nhiều sự cảm thông và thương xót cho số phận những người phụ nữ, đặc biệt là những người rơi vào hoàn cảnh kém may mắn, khi hạnh phúc không được đủ đầy. Tác phẩm đồng thời cũng thắp lên một niềm tin vào lòng tốt, vào sự bao dung trong trái tim mỗi người phụ nữ.
Ca dao xưa có câu: “Chỉ đâu mà buộc ngang trời/ Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ”. Đi vào những bài ca dao về đề tài phụ nữ lẳng lơ, chúng ta hiểu thêm quan niệm về tự do của người phụ nữ trong xã hội cũ nhưng một mặt tự hỏi phải chăng những câu dao này là kết quả của những bức bối và dồn nén, bất hạnh và đau khổ? Rõ ràng ca dao đã diễn đạt ước mơ của những con người lao động chịu rất nhiều tầng áp bức trong xã hội phong kiến.
Trong các gương mặt thơ nổi danh của miền Nam từ trước 1975, Nguyễn Đức Sơn là một tên tuổi đặc biệt. Được người đương thời xếp vào tứ trụ thi ca của miền Nam, ông cũng được coi là một kỳ nhân bởi phong cách thơ và cá tính độc đáo của mình. Sau một thời gian sinh sống bằng nghề dạy học ở nhiều nơi như Phan Rang, Sài Gòn, Thủ Dầu Một, Blao…, ông cùng gia đình chuyển lên ngọn đồi Phương Bối, Bảo Lộc, Lâm Đồng sinh sống và phát nguyện sẽ trồng đủ một vạn cây thông. Không những ông dành cả cuộc đời mình để trồng hàng vạn cây thông, ông còn truyền được tình yêu ấy cho thế hệ kế tiếp của mình là các con của ông, góp phần mang lại một cảnh quan thiên nhiên thật đặc biệt cho vùng Phương Bối, Bảo Lộc. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6) lần này xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ ông với tên gọi: Nguyễn Đức Sơn – Còn mãi với ngàn thông.
Chuyện thắng thua trong mọi cuộc chơi là cả một triết lý nhân sinh, thấm đẫm đạo lý, nhân cách của người trong cuộc. Kẻ thù lớn nhất là chính mình, thất bại lớn nhất cũng từ mình mà ra. Người tài giỏi, nếu không tránh được thói kiêu ngạo, tự cao tự đại, coi thường kẻ yếu kém hơn mình, thì đó là cái bẫy tự sập mình, do đã dồn kẻ yếu tới tận cùng đớn đau, nhục nhã, khiến tức nước vỡ bờ...Triết lý ấy được thể hiện qua truyện ngắn "Bộ cờ ngà voi" của nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến trong chương trình Đọc truyện đêm khuya hôm nay

Để có được một truyện ngắn hay về đề tài miền núi, không gì bằng việc tác giả phải có một đời sống thực tế gắn bó với mảnh đất và con người nơi ấy. Tác giả Nguyễn Văn Toan quê Hà Giang và là người con của dân tộc Tày. Anh viết truyện ngắn này khi đang là sinh viên năm thứ hai Khoa Viết văn – Báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội. Như tác giả tự bạch, truyện ngắn này được viết trong cảm xúc xa nhà và đây cũng là một lời tri ân với núi rừng, với huyết mạch của dân tộc Tày. Truyện được viết từ ngôi thứ nhất, nhân vật xưng Tôi, có tên là Thánh, là con trai thứ hai trong một gia đình có hai anh em trai. Anh trai Thánh là Thử, có tính cách khác hẳn với Thánh. Toàn bộ các nhân vật trong truyện này đều hiện lên với sự bất thường và đều đi qua những biến cố đặc biệt trong cuộc đời. Những biến cố ấy góp phần dẫn dắt mạch truyện, đưa cốt truyện đến những cao trào dữ dội, mang đến những bi kịch cho các nhân vật. Thử thì có tính cách ngang ngạnh, ngỗ ngược, lầm lì. Thánh thì hiền hơn anh nhưng năm 17 tuổi cũng quyết định bỏ nhà ra đi. Các nhân vật nữ trong truyện đều có cuộc đời long đong, lỡ dỡ, nhất là chuyện tình duyên. Đó là mẹ của Mẫn rồi sau này là Mẫn, đó là bà Mải và chị Tơ. Người đọc có cảm giác nỗi khổ của người phụ nữ giống như một cái gì truyền kiếp, muốn dứt ra mà không được. Khi Mẫn thành vợ của Thử một cách bất đắc dĩ, cả Mẫn và Thánh đều rơi vào trạng thái khổ đau cùng cực. Cho đến khi Thử bị tai nạn lao động rồi qua đời, thì bi kịch mới lại nảy sinh. Đó là nỗi đau buồn của gia đình khi mất đi một người con, một người anh trai, đứa trẻ vừa được Mẫn sinh ra mất đi người bố. Những tháng ngày sắp tới, Thánh và Mẫn sẽ đối mặt như thế nào, họ có thể vượt qua được những thử thách hay không. Một cái kết mở, đầy nhức nhối nhưng cũng không ít hy vọng được tác giả đặt ra cho nhân vật và cho chính mỗi người đọc khi câu chuyện khép lại. Truyện được mở ra và kết thúc đều bằng những hình ảnh/chi tiết mang đậm nét văn hóa Tày. Đó là tục lệ treo dây rốn và nhau thai lên cây cổ thụ khi một đứa trẻ ra đời và tục cắt tóc của những người thân trong gia đình cùng tóc người đã mất cũng treo vào đúng gốc cây ấy. Ẩn chứa đằng sau những phong tục ngàn đời như vậy chính là lối sống trọng tình nghĩa và cũng thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của mỗi con người. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)
Chương trình “Tiếng thơ” của Ban VHNT (VOV6) chủ đề Núi chuyển tới các bạn sáng tác của các nhà thơ La Quán Miên, Tạ Bá Hương, Lò Cao Nhum, Thu Loan, Ngô Thanh Vân, các nhà thơ nước ngoài Miguel Ángel Asturias, Koun qua trình bày của các Nghệ sĩ Hoàng Long, Vương Hà, Quốc Hưng, Thanh Tâm, Lâm Tùng – Tư liệu từ Trung tâm Sản xuất và Lưu trữ chương trình – Đài Tiếng nói Việt Nam.
Sắc thái hài hước bao trùm trong những bài ca dao trào phúng về phụ nữ. Khác với ca dao trữ tình được sáng tác nhằm giãi bày tâm tư tình cảm, ca dao hài hước dùng tiếng cười để mỉa mai, châm biếm những hiện tượng chưa lành mạnh, những thói hư tật xấu của phụ nữ trong xã hội
Thật đáng trân quý là nét đẹp tâm hồn con người không vẩn đục dù bất cứ trong hoàn cảnh nào. Người xưa thường nhắc tới cái nết như một biểu tượng đáng trân trọng nhất của con người, thậm chí “Cái nết đánh chết cái đẹp”, nết người còn được đánh giá vượt lên cả cái đẹp bề ngoài. Và cũng thật hoàn hảo khi vẻ đẹp hình thể lại được hòa quyện cùng vẻ đẹp tâm hồn
Nhà thơ Nguyễn Duy thuộc thế hệ trưởng thành trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Mới bước vào làng thơ, ông đã giành ngay giải Nhất trong cuộc thi thơ 1972-1973 của Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ qua, Nguyễn Duy đã tạo được dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ qua hàng chục tập thơ đã xuất bản. Ông đã nhận Giải thưởng thơ hạng A của Hội Nhà văn VN năm 1985 cho tập thơ Ánh trăng, nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Trong gia tài thơ Nguyễn Duy, những bài lục bát giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Chúng không chỉ chiếm số lượng lớn trong tương quan với các thể loại khác mà nhiều bài, nhiều câu đã có một sức ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn học nghệ thuật nước nhà. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6) lần này xin được dành một cuộc trò chuyện mang tên Lục bát Nguyễn Duy để cùng tìm hiểu, trao đổi về thể loại đặc sắc này của ông.

Truyện được kể ở nhiều điểm nhìn khác nhau. Dù ở điểm nhìn của người kể chuyện hay điểm nhìn của nhân vật đều góp phần khắc họa hình ảnh người cán bộ công an xã trong quá trình đấu tranh với các loại tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và bình yên cuộc sống. Mở đầu truyện là hình ảnh nhân vật Quyết trên một chuyến phà đến nhận công tác tại địa bàn xã khó khăn nhất tỉnh trung du. Khung cảnh đẹp của một vùng quê tưởng chừng yên bình hiện ra trước mắt nhưng khi chứng kiến những chiếc xe tải chở cát vàng và nhất là qua cuộc gặp gỡ bên quán Gió, Quyết dần phát hiện ra các hoạt động khai thác cát trái phép trên sông của ông Lưỡng - một người có máu mặt tại địa phương. Từ đây, sự xuất hiện của các nhân vật cùng một loạt các diễn biến tiếp theo dần đẩy câu chuyện lên cao trào. Mối quan hệ gia đình phức tạp giữa ông Lưỡng, Khem- vợ ông Lưỡng, Du - thằng bé con của Khem và Nuôi - thằng con trai không rõ lai lịch của ông Lưỡng tạo các tình tiết cho câu chuyện thêm hấp dẫn. Tác giả để nhân vật tự tự kể chuyện, dùng điểm nhìn của nhân vật để diễn tả tâm lý. Đoạn văn diễn tả cảnh Du bị nước cuốn trôi do sạt lở bãi bồi ven sông đã nói lên hậu quả đau lòng của nạn khai thác cát trái phép làm hủy hoại môi trường. Và từ đây, hình ảnh Quyết - người cán bộ Công an xã hiện lên thật đẹp, ngời sáng tinh thần dũng cảm, sự mưu trí, không ngại hiểm nguy. Chính Quyết đã cứu Du thoát nạn. Để bảo vệ người dân khỏi mối nguy hiểm rình rập hàng ngày, Quyết trên cương vị Phó Công an xã đã lên kế hoạch cùng đồng đội quyết tâm triệt phá ổ nhóm khai thác cát trái phép trên sông hàng đêm. Tình huống bất ngờ khi Nuôi mới đi tù về đột ngột xuất hiện cản trở, dùng súng định bắn Quyết. Càng bất ngờ hơn khi Du- thằng bé được Quyết cứu đã lao đến đỡ viên đạn thay Quyết. Đây là chi tiết thể hiện sự nhân văn của tác phẩm. Với sự trải nghiệm sâu sắc, lối viết tỉ mỉ và cốt truyện gay cấn, nhiều bất ngờ, tác giả Đỗ Ngọc Bích đã mang đến ngưởi đọc, người nghe một niềm tin rằng, vượt lên trên tất cả, công lý và tình người sẽ luôn giành chiến thắng trong mọi hoàn cảnh.

Truyện ngắn của Nguyệt Chu mang lại cảm giác và liên tưởng về một cuốn phim quay chậm. Ở đó tác giả hoàn toàn để cảm xúc chi phối câu chuyện của mình. Từ sự dẫn dắt của cảm xúc, đường nét các nhân vật, chi tiết, bối cảnh, tình huống, xung đột hiện ra. Như những truyện ngắn khác của cô giáo Nguyệt Chu, chất văn và cả chất đời thấm đẫm trong từng trang truyện “Miền gió”. Ta có thể nhặt ra trong truyện của chị từng mảnh cuộc sống hiện thực nơi chốn đang cư ngụ, một tai nạn rơi máy bay huấn luyện quân sự, nhịp sống thường ngày của một cô giáo, cánh đồng, vụ gặt và triền sông ngập gió. Khi nhìn qua lăng kính khô khốc của đời thường, mọi thứ giản đơn và trôi tuột đi, rồi tuần tự nhịp sống chồng chất lên, chẳng còn lại chút dư vang. Nhưng qua những trang văn của Nguyệt Chu, chúng ta thấy đọng lại đó thao thiết tiếng đời, nỗi xót xa, thương cảm cho số phận con người. Tác giả đã không chọn sự tỉnh táo trong khi sáng tác mà để cho cảm xúc dẫn dắt đến cùng. Có lẽ vì thế kết truyện của chị có lẽ khiến một bộ phận độc giả hụt hẫng. Nhưng cũng tới cùng, nhặt trong “Miền gió”, chúng ta vẫn cảm nhận được sự rung động, chất văn trong sáng tác của Nguyệt Chu. (Lời bình của BTV Võ Hà)