
Có người từng nói: “Trái tim người phụ nữ là một đại dương sâu thẳm đầy những điều bí mật”. Nhân vật bà Mảy trong truyện ngắn này cũng chôn giấu trong mình một bí mật. Bà Mảy đã mang bí mật ấy cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Giá bà có thể nói ra thì bà sẽ đỡ đau khổ và nhẹ lòng hơn chăng? Điều đó đã không xảy ra, bà ra đi và bí mật ấy mãi theo bà. Nhưng trước khi tan vào thế giới hư vô, bà đã đối diện với chính mình để sống với bí mật ấy cũng là sống lại những ngày tháng buồn tủi, sống lại giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời... Một lần trót “say nắng” của người đàn bà H’Mông này có đáng trách, đáng phải chịu đựng dằn vặt vậy không? Mỗi chúng ta sẽ có câu trả lời khi câu chuyện khép lại. Mạch truyện được triển khai theo lối đan cài giữa hiện tại và quá khứ qua những dòng hồi ức của nhân vật bà Mảy, hé lộ dần bí mật của người đàn bà Mông khiến câu chuyện trở nên sinh động, lôi cuốn. Truyện có nhiều hình ảnh ẩn dụ mang tính biểu tượng và nhiều chi tiết hay. Miếng dồi mà người sắp lìa đời muốn ăn không hẳn là miếng dồi mà đấy chính là chìa khóa của bí mật, cũng là khát khao được sống là mình, được hưởng những niềm vui của một người đàn bà. Hình ảnh những bông hoa pằng nảng xuất hiện xuyên suốt truyện làm độc giả liên tưởng đến bóng hình những người phụ nữ miền núi đẹp rực rỡ những cũng sớm lụi tàn trong buồn bã, khổ đau. Chi tiết vết chàm đỏ hình bông pằng nảng bên ngực trái thằng Dìn con bà Mảy khiến độc giả phải tự tìm câu trả lời về nguồn gốc của Dìn. Qua dòng hồi ức nhiều day diết, buồn thương của bà Mảy, tác giả Nguyễn Phú một lần nữa khẳng định mình là người có khả năng lặn sâu vào vùng sâu thẳm nhất trong tâm hồn người để hiểu họ, giải mã những bí mật cũng như lý giải muôn nỗi éo le của cõi người. Nhịp điệu liên hoàn, tiết tấu chậm, trầm buồn đã góp phần làm nên thành công của truyện ngắn này. Truyện ngắn “Bông pằng nảng cuối mùa xuân” là câu chuyện sâu kín về tình cảm, tình yêu và những day dứt cả kiếp người…(Lời bình của BTV Vân Khánh)

Cô gái người dân tộc Thái lên là Pai sinh ra từ núi rừng, lớn lên trong sương khói của bản làng nên khi trưởng thành đã ra thành phố sống nhưng cô vẫn không quên được quê nhà của mình. Mối quan hệ tình cảm với Việt, sự xô bồ nơi thành thị khiến ngoại hình Pai có thay đổi nhưng cô vẫn lưu luyến những nếp sống xưa cũ. Dù đã sống cuộc sống hiện đại nơi thành phố nhưng Pai vẫn nhớ mùi thơm của căn nhà gỗ Phơ mu mà bố gây dựng, nhớ mùi cá nướng, mùi khoai nướng thủa nhỏ, nhớ kỉ niệm cùng gia đình, bạn bè. Quan trọng hơn, Pai không bỏ đi cái vía đeo ở cổ tay mình, sợi dây gắn kết cô với cội nguồn. Tình cảm của vô và Việt chấm dứt, Pai thoáng buồn nhưng không thất vọng vì cô biết vị trí của mình trong mắt Việt như thế nào. Pai chia tay mối tình thoáng qua để trở về với mái nhà ấm êm, với không gian sống hòa quyện hồn cốt của mình. Pai là nhân vật chính cũng là người kể câu chuyện về cuộc đời mình. Truyện ngắn không có biến cố to lớn ngoài cái chết của người cha, không có mẫu thuẫn mà chỉ là cảm xúc, là tâm tình buồn vui của người phụ nữ. Qua câu chuyện của Pai, người đọc người nghe cảm nhận được giá trị của lối sống vùng miền khác nhau. Những điều bình dị như ngôi nhà, món ăn dân giã, trò chơi thôn quê, phong tục tập quán tạo nên sự gắn kết con người với quê hương. Nhiều chi tiết trong truyện như kỉ niệm với cha, những món ăn, thói quen học từ cha mẹ của cô gái Pai được đưa vào tự nhiên mà đầy tình cảm ấm áp. Truyện ngắn đưa người đọc, người nghe tới không gian văn hóa của người dân tộc Thái phía Bắc nước ta. Sinh ra và lớn lên từ núi rừng, cái vía của rừng gắn bó với tâm hồn của Pai cũng như mỗi người dân tộc Thái. Rời xa những xô bồ, cám dỗ trốn thị thành, Pai trở về sống trong bầu không khí yên bình nơi làng quê. Truyện ngắn khiến chúng ta có nhiều suy ngẫm về giá trị đích thực của cuộc đời cũng như hiểu hơn về cuộc sống đậm đà bản sắc dân tộc nơi vùng cao. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)
Trong hai kỳ Tìm trong kho báu vừa qua, chúng tôi đã giới thiệu tới quý vị thính giả di sản văn chương Hàn Mặc Tử qua nhiều bài viết cũng như nhận định của các nhà phê bình nghiên cứu trong khoảng hơn ba chục năm qua. Có thể nói, thơ Hàn Mặc Tử luôn tạo ra sức hút với mọi thế hệ độc giả, là vùng đất còn chứa nhiều bí ẩn, tiếp tục mời gọi các cây bút phê bình tiếp tục khảo cứu và tìm tòi. Chương trình hôm nay, chúng ta tiếp tục tìm hiểu di sản văn chương Hàn Mặc Tử

Với giọng văn sâu lắng, đầy cảm xúc mang dấu ấn riêng như thường thấy, ở truyện ngắn mà các bạn vừa nghe, nhà văn Nguyễn Hương Duyên đã đủng đỉnh, chậm rãi kể một câu chuyện mà chính gia đình ta hay một gia đình nào đó cũng có thể xảy ra. Vũ và Ngân-cặp vợ chồng có một cuộc sống gia đình hạnh phúc cùng hai đứa con. Thế nhưng, chỉ vì một hiểu lầm nho nhỏ, ai cũng vì cái tôi quá cao mà không hạ mình xuống cất công tìm hiểu nguồn cơn; không sẵn sàng trò chuyện, chia sẻ, cứ giữ ấm ức trong lòng dẫn đến sự việc trầm trọng; tâm lý chán nản, bất cần. Vũ hiểu lầm Ngân có người mới, còn Ngân thì cho rằng chồng mình có bồ. Thực ra, Ngân không có ai cả. Còn Vũ chỉ vì cả nể, không tránh khỏi những phút yếu lòng mà cho Hà một đứa con chứ anh không hề yêu cô. Nhưng vì thấy thái độ thờ ơ, bất cần và xa lánh của Ngân mà Vũ lại nảy sinh quyết định ly dị vợ để đến với Hà. Trong cuộc tình tay ba này có lẽ chỉ có Hà là người tỉnh táo nhất. Cô biết Vũ không yêu mình, cô cũng biết anh cưới mình không phải do cô và đứa con đã kéo anh về phía mình, vì thế Hà đã quyết định không chung sống với Vũ. Tác giả đã dụng công xây dựng nhân vật Hà khá sắc nét. Hà không lợi dụng sự bất ổn của Vũ để cướp chồng người khác. Cách ứng xử của cô cũng rất văn minh. Hà chủ động hẹn gặp Ngân, giải thích mọi chuyện cho Ngân hiểu. Rằng cô chỉ yêu đơn phương và chỉ xin Vũ một đứa con, rằng hai người nên quay về với nhau. Sau đó Hà còn nỗ lực làm nhiều việc khác nữa những mong hàn gắn vợ chồng Vũ-Ngân.
Vậy đấy, đôi khi thói kiêu ngạo trong mỗi người lại bị xem nhầm là lòng kiêu hãnh. Có những rạn nứt mà chính sự xa cách đẩy tan vỡ đến rất nhanh. May mà hai người trong cuộc còn có mối quan tâm chung là những đứa con, và quan trọng họ vẫn còn yêu nhau, luôn nghĩ về nhau, như “bếp lửa còn nồng” (Lời bình của BTV Vũ Hà)

Đúng như nhan đề của tác phẩm, “Ranh giới mong manh” là câu chuyện của 3 người, với tình huống khá trớ trêu khi Hoàn và Tuyết lấy nhau lâu rồi mà chưa có con. Điều đó khiến Hoàn dằn vặt, vừa thương vợ, vừa trách mình. Hoàn nghĩ nhiều cách và cuối cùng, anh nhờ Quân - đồng nghiệp của anh, đến nhà mình ở bản chơi một thời gian, để gặp Tuyết và quan trọng nhất là giúp anh một việc hết sức khó nói, rất tế nhị: cho Tuyết một đứa con. Quân ban đầu từ chối, nhưng sự khẩn khoản của bạn anh đã khiến Quân không nỡ chối từ. Câu chuyện diễn tiến với nhiều tình tiết gay cấn, Hoàn để Quân ở lại với Tuyết trong nhà mình và hai người ấy trở nên khó xử. Sự đấu tranh trong tư tưởng của Quân, vừa muốn giúp bạn, vừa lưỡng lự vì không thể cư xử như vậy được, Quân mất ngủ vì suy nghĩ. Về phía Tuyết, người phụ nữ rất yêu chồng cũng đã biết ý đồ của chồng mình khi dẫn Quân về, cô cũng mở lòng và gợi ý cho Quân biết. Những ngày ở trong nhà bạn, Quân có nhiều thiện cảm với Tuyết, tình cảm giữa hai người đã có những vấn vương nhưng chưa vượt quá giới hạn vợ chồng. Tình huống hai người ngồi sát lại gần nhau, muốn trao nhau tình yêu tự nguyện mà không hẳn là sự gửi gắm, cậy nhờ của Hoàn nữa, thì Hoàn trở về. Mong manh, chênh vênh, khắc khoải, tiếc nuối là những trạng thái mà Quân đang tự giày vò, cả Tuyết cũng vậy. Câu chuyện về tình yêu lứa đôi, về những tình huống khó nói trong đời sống hôn nhân, về cách ứng xử vợ chồng … là những điều mà chúng ta vẫn thường gặp trong cuộc sống này. Chúng ta cảm thông, chia sẻ hơn với những con người ấy, họ có quyền được yêu và mưu cầu hạnh phúc chính đáng. Đó là thông điệp nhân văn mà truyện ngắn mang lại, bởi cuộc đời cần lắm sự bao dung, sự tử tế của con người (Lời bình của BTV Vân Khánh)

Nhà văn, nhà báo Hồ Ngọc Quang là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, trưởng ban văn xuôi Hội văn học nghệ thuật Nghệ An. Anh là cây bút sắc sảo, xông xáo, linh hoạt, bám sát đời sống ở thể loại truyện ngắn, bút ký và tiểu thuyết lịch sử “Tể tướng Hồ Sỹ Dương”. Trong sự nghiệp văn chương, nhà văn Hồ Ngọc Quang có nhiều tập truyện ngắn đạt giải thưởng, nhiều tập bút ký tiêu biểu như “Nỗi đau chưa dứt” giải nhất ký báo chí Nghệ An, ký “Rộn rã bình minh” đạt giải Ngành Nông nghiệp năm 2017. Anh viết kịch bản phim “Vết thương xưa” đạt giải vàng Liên hoan phát thanh truyền hình toàn quốc năm 2000, giải nhất Búa liềm vàng tác phẩm “Bí thư huyện ủy” năm 2018. Những năm gần đây, bạn đọc đón nhận nhiều tác phẩm của anh trên Báo Văn nghệ với một giọng văn khá ấn tượng, đó là sự gắn bó mật thiết với quê hương xứ Nghệ, với riêng Quỳnh Lưu quê anh. Tất cả những gì thuộc về quê hương xứ sở đã trở thành máu thịt, là động lực sáng tạo của một nhà văn, nhà báo sung sức Hồ Ngọc Quang. Chương trình Đọc truyện đêm khuya hôm nay, xin gửi đến quý vị và các bạn truyện ngắn “ Ranh giới mong manh” – truyện ngắn đạt giải nhì giải thưởng Hồ Xuân Hương:

Vâng có thể thấy cốt truyện không mới tóm gọn vào mấy câu là xong, motip thì cũng quen, một cô gái làm nghề rót bia, rượu ở vũ trường, sống đời buông thả, sớm muộn rồi cũng gặp những bi kịch trái ngang và cái kết bị ruồng bỏ. Điều khác lạ, tạo đặc biệt cho truyện ngắn này có lẽ là ở giọng kể, tác giả trẻ đã chọn giọng kể của một nhân vật vô hình, có thể gọi là một con ma nam trú ngụ trong căn phòng cô gái trẻ. Từ góc quan sát vô hình đó, nhân vật tôi cảm nhận hết được đời sống nội tâm thầm kín, mặt khuất lấp của một cô gái kiếm sống bằng thân xác. Đằng sau những cuộc ăn chơi buông thả ồn ã, đầy mùi bia và xác thịt, ánh đèn màu lấp lóa là những dằn vặt, sám hối, những lời xưng tội, khát khao hướng tới một cuộc sống thiện lương hạnh phúc. Dĩ nhiên tác giả soi chiếu nhân vật của mình bằng góc nhìn đầy xót xa, thương cảm thấu hiểu và nhân ái. Song có thể nói không dễ nhận ra sự khác thường của giọng kể này bởi đó là giọng tự sự rất kín đáo, kỹ càng và tinh tế như của một người bạn trai thân thiết, chứng kiến, nắm bắt, hiểu rất rõ về Chương, miêu tả đời sống nội tâm cô gái một cách tỉ mỉ chi tiết. Phải tinh lắm mới phát hiện ra sự khác lạ ở giọng kể, chỉ tới gần kết truyện, giọng kể tôi mới tự sự: “Tôi vô hình trong bóng tối” “Tôi là một con ma đang dần chết đi một lần nữa”. Chọn giọng kể đặc biệt này phải chăng là một một thử nghiệm táo bạo của cây bút trẻ Võ Đăng Khoa. Chọn giọng kể này ít nhiều đã tạo hiệu ứng lôi cuốn hấp dẫn, nhưng cũng buộc người đọc người nghe phải dõi theo lời kể kỹ càng, mới khám phá ra sự khác thường có phần liêu trai của truyện. Chính cách truyền tải mới mẻ này đã tạo ấn tượng riêng, làm nên sự thành công của truyện ngắn này. (Lời bình của BTV Tuyết Mai)

Trong chương trình Tìm trong kho báu lần trước, chúng tôi đã giới thiệu tới quý vị thính giả kỳ thứ nhất khi cùng nhìn lại di sản văn chương của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Có lẽ, một trong những bài phê bình đầu tiên về thơ Hàn Mặc Tử chính là bài viết của Hoài Thanh trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam. Dù những nhận xét về từng tập thơ cụ thể có khác nhau, song không thể phủ nhận vẻ độc đáo, riêng biệt lạ lùng của Hàn Mặc Tử, nhất là với tập Thơ điên. Hoài Thanh đã viết: “Một tác phẩm như thế ta không thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn. Ta chỉ biết ta đang đứng trước một người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu. Cuộc tình duyên ra đời với Hương thơm, hấp hối với tập Mật đắng, cho đến Máu cuồng và hồn điên thì đã chết thiệt rồi, nhưng khí lạnh còn tỏa lên nghi ngút”. Sau Hoài Thanh, các nhà phê bình thuộc các thế hệ kế tiếp còn tiếp tục khẳng định sự độc đáo của thế giới thơ, hồn thơ Hàn Mặc Tử.
Đã từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới dành riêng một ngày trong năm để tôn vinh những người cha và gọi là Ngày của cha (Father’s Day). Tùy vào từng quốc gia, Ngày lễ dành cho những người cha sẽ được cả cộng đồng long trọng kỷ niệm, nhưng phổ biến nhất là vào các tháng 3, tháng 4 và tháng 6. Khoảng gần chục năm trở lại đây, Ngày của Cha được hưởng ứng và chào đón ấm áp ở nước ta với ngày kỷ niệm được xác định là vào chủ nhật thứ ba của tháng 6 hàng năm, cùng thời điểm với nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Argentina, Mexico... Người cha và tình cha con cũng đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật từ trước đến nay. Nhân dịp Ngày của cha năm nay, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6), Đài TNVN xin được gửi tới quý thính giả một cuộc trò chuyện với nhan đề: Tình cha con trong thơ Việt
Đã từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới dành riêng một ngày trong năm để tôn vinh những người cha và gọi là Ngày của cha (Father’s Day). Tùy vào từng quốc gia, Ngày lễ dành cho những người cha sẽ được cả cộng đồng long trọng kỷ niệm, nhưng phổ biến nhất là vào các tháng 3, tháng 4 và tháng 6. Khoảng gần chục năm trở lại đây, Ngày của Cha được hưởng ứng và chào đón ấm áp ở nước ta với ngày kỷ niệm được xác định là vào chủ nhật thứ ba của tháng 6 hàng năm, cùng thời điểm với nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Argentina, Mexico... Người cha và tình cha con cũng đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật từ trước đến nay. Nhân dịp Ngày của cha năm nay, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6), Đài TNVN xin được gửi tới quý thính giả một cuộc trò chuyện với nhan đề: Tình cha con trong thơ Việt

Giống như nhiều truyện ngắn đã công bố, tác phẩm lần này của Trang Thụy vẫn là sự quan tâm sâu sắc về số phận người phụ nữ ở vùng cao trong những bản làng nghèo. Nhân vật nữ chính trong truyện ngắn chúng ta vừa nghe là Xằn, sống một mình đã lâu bởi chồng bỏ đi Lào rồi lấy vợ mới bên ấy. A Lếnh muốn cưới Xằn về cho bố để có người chăm sóc bố, và bản thân bố Lếnh là lão Sé cũng muốn như vậy. Xằn thì đương nhiên không muốn làm vợ một ông già đã gần đất xa trời. Con người của Xằn trong nhiều miêu tả của tác giả, tưởng chừng như đã khô cứng chai sạn vì bao năm tháng sống một mình, vì sự cô đơn gặm nhắm đến mỏi mòn. Xằn hàng ngày chỉ biết lấy việc hút thuốc lào làm vui, đôi khi uống rượu. Nhưng hóa ra từ trong thẳm sâu người phụ nữ kia vẫn không ngừng một khát khao hạnh phúc. Và người mà Xằn muốn xây dựng hạnh phúc là Lếnh chứ không phải lão Sé. Lềnh nắm được tâm lý này nên đã dùng cách nói mập mờ “Xằn đồng ý về làm dâu nhà họ Vừ nhé” để kéo bằng được Xằn về làm vợ lão Sé. Oái oăm ở chỗ khi kéo được Xằn về thì lão Sé cũng qua đời ngay sau đó. Vậy là cho dù Lếnh có làm hết sức để tỏ lòng hiếu với bố nhưng lão Sé cũng chẳng được hưởng cái hạnh phúc ấy. Bản thân Lếnh cũng bị giằng xé bởi tình cảm dành cho Xằn và chữ hiếu đối với cha. Giờ đây, khi lão Sé đã qua đời, Xằn về mặt danh nghĩa đã là mẹ kế của Lếnh, chẳng còn cách nào để Lếnh xây dựng hạnh phúc với Xằn được nữa. Sự trái ngang này khiến cho cả Xằn và Lếnh đều phải ôm nỗi đau khổ, dở dang. Hạnh phúc tưởng như thật gần mà chẳng thể nào chạm tới được. Ngôn ngữ truyện ngắn của Trang Thụy, như thường lệ, gây ấn tượng đậm nét với cách dùng chữ tạo cảm giác mạnh, chẳng hạn: cái rét đục răng đục lợi, ư ử như ma bịt mồm, ngọn đồi bị đêm tán mịn, rét mót rét vét rét đau rét đớn, cơn ho móc trào mật, bụng kêu rọc rạch như suối, mèo rừng cắm vuốt vào bóng đêm…Những con chữ cuối cùng đã khép lại tác phẩm mà dư âm vẫn còn vương vấn, khiến mỗi người nghe người đọc khắc khoải không nguôi về những kiếp người. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)

Giống như nhiều truyện ngắn đã công bố, tác phẩm lần này của Trang Thụy vẫn là sự quan tâm sâu sắc về số phận người phụ nữ ở vùng cao trong những bản làng nghèo. Nhân vật nữ chính trong truyện ngắn chúng ta vừa nghe là Xằn, sống một mình đã lâu bởi chồng bỏ đi Lào rồi lấy vợ mới bên ấy. A Lếnh muốn cưới Xằn về cho bố để có người chăm sóc bố, và bản thân bố Lếnh là lão Sé cũng muốn như vậy. Xằn thì đương nhiên không muốn làm vợ một ông già đã gần đất xa trời. Con người của Xằn trong nhiều miêu tả của tác giả, tưởng chừng như đã khô cứng chai sạn vì bao năm tháng sống một mình, vì sự cô đơn gặm nhắm đến mỏi mòn. Xằn hàng ngày chỉ biết lấy việc hút thuốc lào làm vui, đôi khi uống rượu. Nhưng hóa ra từ trong thẳm sâu người phụ nữ kia vẫn không ngừng một khát khao hạnh phúc. Và người mà Xằn muốn xây dựng hạnh phúc là Lếnh chứ không phải lão Sé. Lềnh nắm được tâm lý này nên đã dùng cách nói mập mờ “Xằn đồng ý về làm dâu nhà họ Vừ nhé” để kéo bằng được Xằn về làm vợ lão Sé. Oái oăm ở chỗ khi kéo được Xằn về thì lão Sé cũng qua đời ngay sau đó. Vậy là cho dù Lếnh có làm hết sức để tỏ lòng hiếu với bố nhưng lão Sé cũng chẳng được hưởng cái hạnh phúc ấy. Bản thân Lếnh cũng bị giằng xé bởi tình cảm dành cho Xằn và chữ hiếu đối với cha. Giờ đây, khi lão Sé đã qua đời, Xằn về mặt danh nghĩa đã là mẹ kế của Lếnh, chẳng còn cách nào để Lếnh xây dựng hạnh phúc với Xằn được nữa. Sự trái ngang này khiến cho cả Xằn và Lếnh đều phải ôm nỗi đau khổ, dở dang. Hạnh phúc tưởng như thật gần mà chẳng thể nào chạm tới được. Ngôn ngữ truyện ngắn của Trang Thụy, như thường lệ, gây ấn tượng đậm nét với cách dùng chữ tạo cảm giác mạnh, chẳng hạn: cái rét đục răng đục lợi, ư ử như ma bịt mồm, ngọn đồi bị đêm tán mịn, rét mót rét vét rét đau rét đớn, cơn ho móc trào mật, bụng kêu rọc rạch như suối, mèo rừng cắm vuốt vào bóng đêm…Những con chữ cuối cùng đã khép lại tác phẩm mà dư âm vẫn còn vương vấn, khiến mỗi người nghe người đọc khắc khoải không nguôi về những kiếp người. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)

Nhà thơ Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình, học ở Huế từ 1926 đến 1930 rồi sau đó, khi cha qua đời, ông theo mẹ vào sống ở Quy Nhơn, Bình Định. Gia đình ông theo đạo Công giáo. Hàn Mặc Tử làm thơ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn từ nhà chí sĩ này. Năm 1935, gia đình bắt đầu phát hiện dấu hiệu bệnh phong trên cơ thể ông nhưng ông không quan tâm nhiều đến việc điều trị. Đến năm 1938-1939 thì bệnh chuyển nặng, Hàn Mặc Tử lên những cơn đau đớn dữ dội và buộc phải vào Trại phong Quy Hòa ngày 20 tháng 9 năm 1940. Ông qua đời tại đây vào ngày 11 tháng 11 năm 1940 vì chứng bệnh kiết lỵ khi mới vừa bước sang tuổi 28. Sinh thời, Hàn Mặc Tử mới in một tập thơ duy nhất là tập Gái quê (1936). Những tập thơ sau Gái quê của ông chỉ được lưu truyền trong bạn hữu và những người yêu văn chương, gồm có: Thơ điên (gồm 3 tập: Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng và hồn điên), Xuân như ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội, Chơi giữa mùa trăng. Sau chặng đường đầu làm thơ Đường luật với tập Lệ Thanh thi tập, Hàn Mặc Tử đã chuyển sang phong cách hiện đại và góp phần đưa thơ trữ tình Việt Nam lên đỉnh cao mới. Đặc biệt ở giai đoạn sau Gái quê, Hàn Mặc Tử trình bày một hồn thơ độc đáo, lạ lùng chưa từng có trước đó và cũng không giống với bất cứ thi sĩ nào đương thời.

Vì sao tuổi thơ viết về đề tài người lính-quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại chiến trường Campuchia, làm nghĩa vụ quốc tế, truyện không có nhiều chi tiết gay cấn thót tim như các truyện viết về chiến tranh ta từng thấy. Nhà văn Phùng Kim Trọng đã mang tới một âm hưởng mới rất đẹp, tuy chiến tranh nhưng lại rất đỗi lãng mạn nhẹ nhàng. Người chiến sĩ tên Nhân với những giấc chiêm bao về bức điêu khắc tuyệt mỹ trong đền Ăng Co, mơ về những người vũ nữ với thân hình mềm mại và điệu múa uyển chuyển. Anh thoát khỏi hiện thực chiến tranh tàn khốc để mà mơ về cái đẹp vĩnh hằng ở nơi sâu nhất trong tâm tưởng. Người đẹp Stieeng - cô vũ nữ Avin xuất hiện với nhiệm vụ ám sát Nhân, món quà cô gửi tới anh là quả mìn zip cài dưới đế giày. Thế nhưng vẻ đẹp và quá khứ đau thương của Avin lại khiến cho Nhân muốn dập tắt đi những hận thù trong mắt nàng sâu thẳm. Và trong giấc mơ, Nhân và Avin cùng ngồi bên nhau, hai người trong cuộc chiến nói cho nhau nghe về những ước mơ từ thuở thiếu thời. Khi tan mộng hiện thực ùa về, Avi cùng một nhúm tàn quân Pôn Pốt ở ngay trước mắt. Rất nhanh, vì là người chỉ huy Nhân phải hành động để cứu anh và cứu đồng đội. Chỉ một tíc tắc thôi Nhân giật nhẹ quả mìn là cô vũ nữ cùng đám tàn quân sẽ bị quét sạch. Nhưng anh dừng lại, và thầm nghĩ “ta có thể chết đến hai lần chứ ta không thể hủy hoại một vẻ đẹp ngần kia”. Cuối câu chuyện là một cái kết đẹp, anh chiến sĩ siết chặt lấy tay người vũ nữ, giấc mơ anh cùng nàng bay lên cùng vì sao tuổi thơ dường như đã trở thành sự thực. Sau cùng, cái đẹp trong lòng tin, cái đẹp sâu trong tiềm thức tâm hồn của con người đã vượt lên và chiến thắng sự tàn bạo của cuộc chiến; cái đẹp đã gắn kết hai con người hai số phận, cái đẹp hóa giải mọi hận thù. Đúng như điều Nhân tâm niệm: “Chúng ta chiến đấu không phải để gieo rắc hận thù, mà chúng ta chiến đấu để cho điệu múa lời ca của hai dân tộc hòa quyện vào nhau”. (Lời bình của BTV Vũ Hà)