Nhà thơ Trần Quốc Thực đã xuất bản tất cả 4 tập thơ: Miền chờ (1989), Nét khắc (1995), Trái tim hoa bìm (1998) và Tháp cúc (2003). Trong 4 tập thơ trên, tập Miền chờ giành Giải B giải Nguyễn Khuyến của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Hà năm 1990, tập Nét khắc dành Giải A về thơ của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Các Hội VHNT Việt Nam năm 1995, tập Tháp cúc dành Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Hà Nội năm 2004. Trong những cây bút đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ và có các sáng tác dồi dào trong thời kỳ sau 1975, Trần Quốc Thực là một giọng điệu riêng biệt. Chương trình Đôi bạn văn chương lần này xin dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ ông với tên gọi: Trần Quốc Thực – Lời cỏ ướt thì thầm.
Trong chương trình Tìm trong kho báu lần trước, chúng tôi đã giới thiệu tới quý vị di sản văn chương Bích Khê qua tập thơ đầu tiên của ông, tập Tinh huyết, xuất bản năm 1939, cũng là tập thơ duy nhất được in khi ông còn sống. Sau khi Bích Khê qua đời tới nửa thế kỷ, gia đình của ông mới công bố tiếp tập thơ thứ hai mang tên Tinh hoa, gây nhiều sửng sốt trong lòng bạn đọc cũng như giới nghiên cứu văn chương. Trong phần đầu của chương trình Tìm trong kho báu hôm nay, mời quý vị cùng theo dõi phần tiếp theo bài viết của tác giả Trần Thu Hà với nhan đề Bích Khê – Từ Tinh huyết thần dị đến Tinh hoa thần linh, để cùng tìm hiểu về tập thơ di cảo mang tên Tinh hoa của Bích Khê.

Câu chuyện về người đàn ông đã có tuổi, về hưu an dưỡng tuổi già nhưng bỗng một ngày nảy sinh tình cảm với một người phụ nữ còn trẻ trên mạng, là chuyện xảy ra khá nhiều trong thời buổi này. Đó là nhu cầu cá nhân của mỗi người, không hoàn toàn đúng mà cũng chưa hẳn đã sai. Nhân vật người đàn ông có nhiều thay đổi tâm lý, sinh hoạt khi nảy sinh tình cảm ngoài luồng ấy, dẫu chỉ nhắn tin, chat với nhau qua mạng nhưng nó có sự tác động rất lớn đối với ông. Cảm giác muốn có một người chia sẻ, chăm sóc, quan tâm, nhất là tuổi già là nhu cầu chính đáng. Nhưng câu chuyện đã kết thúc khá bất ngờ khi người đàn ông muốn gặp trực tiếp người phụ nữ ấy. Hẹn nhau nhưng cô không đến khiến ông hụt hẫng, chán nản và có phần xấu hổ, tự trách mình. Giấc mộng về tình yêu đã chấm dứt đột ngột, có phần phũ phàng khiến ông nhận ra sự thật, khoảng trời riêng tư của ông đã tắt ngấm tự bao giờ. Câu chuyện gợi nhiều suy ngẫm và ứng xử trong cuộc sống, nhất là chuyện tình cảm với tất cả chúng ta. Với nhà văn Xuân Mai, những câu chuyện đời thường được ông đưa vào trang sách thật dung dị, đó là lối ứng xử giữa người với người, là muôn nỗi nhân tình thế thái. Câu chuyện về bà mẹ và đứa con gái ứng xử với tờ tiền giả như thế nào trong truyện ngắn “Đồng tiền rách” sẽ mở ra những chiều kích trong suy nghĩ đối với người đọc, người nghe. Bà mẹ đã cố tình trả tờ tiền giả cho người phụ nữ bán rau bị mù, rồi chính con gái bà lại xin tờ tiền ấy đem về. Khi đứa con gái kể về hoàn cảnh của người phụ nữ bị mù ấy, cách ứng xử đầy tình người của cô đã khiến cho bà mẹ vô cùng xấu hổ và ân hận. Bà chờ mong gặp lại người phụ nữ ấy để xin lỗi nhưng chờ mãi vẫn bặt vô âm tín. Đây là bài học cho chính bà bởi lòng tham và sự nhẫn tâm đã khiến bà đánh mất sự tử tế. Chính cô con gái đã đánh thức bà và sự ân hận, hối cải là điều cần thiết để bà sửa lỗi. Câu chuyện mang ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu sắc, đó là thông điệp mà nhà văn gửi đến. (Lời bình của BTV Vân Khánh)
Nhìn lại các thành tựu của Thơ Mới lãng mạn (1932-1945), Bích Khê là một trong những gương mặt đặc biệt. Chỉ sống trên dương thế 30 năm và sinh thời chỉ in một tập thơ duy nhất, tập Tinh huyết (năm 1939), Bích Khê đã khẳng định một giọng điệu và phong cách độc đáo, không trộn lẫn với bất kỳ ai. Chương trình Tìm trong kho báu lần này xin được cùng thính giả nhìn lại di sản văn chương của ông.
Nhà văn Đỗ Văn Nhâm, sinh năm 1952 tại Vụ Bản, Nam Định. Tốt nghiệp Khóa 3 Trường Viết văn Nguyễn Du. Đã xuất bản tập truyện ngắn “Bạn bè – Làng xa”. Đỗ Văn Nhâm là một người lính đã tham gia ba cuộc chiến tranh, chống Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, từng giữ chức Phó Giám đốc Điện ảnh Quân đội với quân hàm Đại tá. Là một người trực tiếp cầm súng trên nhiều chiến trường, và là người nặng lòng với quá khứ chiến tranh nên hầu hết sáng tác của ông đều bám chặt đề tài này, và ông luôn tìm ra được những góc nhìn độc đáo, khác lạ. Một trong những truyện ngắn thành công nhất của ông phải kể đến Làng xa:
Trong chương trình Tìm trong kho báu kỳ trước, chúng ta đã cùng tìm hiểu về chặng đường sáng tác thứ nhất của Nguyễn Tuân, đó là thời kỳ trước 1945 với tập tác phẩm nổi tiếng Vang bóng một thời cùng một số tùy bút, tiểu thuyết tiêu biểu khác như Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa Đàn. Trong chương trình Tìm trong kho báu lần này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về chặng đường sáng tác thứ hai của Nguyễn Tuân, đó là thời kỳ sau 1945
Nhìn lại nền văn xuôi Việt Nam hiện đại thế kỷ 20, Nguyễn Tuân là gương mặt thật độc đáo, đặc biệt với các sáng tác trải dài trong cả ba giai đoạn: trước 1945, giai đoạn kháng chiến và sau 1975. Nếu như trước 1945, ông có những thành tựu ở cả ba thể loại: truyện ngắn, tùy bút và tiểu thuyết thì kể từ sau 1945, bút lực Nguyễn Tuân chủ yếu tập trung vào một thể loại duy nhất – tùy bút – mà ông gọi đó là một lối chơi độc tấu.
Nhìn vào đội ngũ những cây viết đương đại về đề tài miền núi trong khoảng 15 trở lại đây, Đỗ Bích Thúy nổi lên như một trong những gương mặt tiêu biểu hàng đầu. Chị quê gốc ở Nam Định nhưng lại sinh ra và lớn lên ở Hà Giang, tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền khóa 1997-2001, sau đó về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tính đến nay, Đỗ Bích Thúy đã xuất bản 22 cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn và tản văn. Chị cũng đã dành được nhiều giải thưởng văn học trong nước như Giải Nhất truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2000, Giải Nhất Văn xuôi Hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số năm 2013, Giải Văn học Nghệ thuật thủ đô năm 2014. Nhân dịp cuốn tản văn mới nhất của chị vừa được ra mắt trong tháng Tư này, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban VHNT VOV6 xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung chị với tên gọi: Đỗ Bích Thúy – Than đỏ dưới tro tàn.
Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1954 của quân và dân ta “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” khiến cả thế giới khâm phục. Đã 69 năm trôi qua nhưng ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại ấy vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Rất nhiều bài thơ viết về chiến thắng Điện Biên Phủ đã được ra đời kể về 56 ngày đêm chấn động địa cầu, ca ngợi chiến công và tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh vì sự độc lập tự do của Tổ quốc.
Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu sinh năm 1959 tại Thái Bình. Ông hiện là Chủ tịch Hội đồng thơ – Hội Nhà văn Hà Nội. Vốn là một tiến sĩ Triết học nhưng nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu lại có sức sáng tác thơ ca bền bỉ với nhiều tập thơ như: “Chùm mơ tiên cảm”, “Lửa thiêng”, “Hoa linh”, “Dọc sông Hồng”, “Phồn sinh”, “Hoa linh thảo”…Vừa qua, nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu đã có cuộc gặp gỡ bạn bè văn chương tại không gian của “Tổ Chim Xanh”, Hà Nội. Trong buổi tâm giao này, trường ca “Phồn sinh” của nhà thơ quê Thái Bình đã nhận được nhiều sự chú ý và đánh giá từ các nhà nghiên cứu và các bạn thơ. Phóng viên chương trình có bài “Nguyễn Linh Khiếu: Phá cách trong trường ca triết học”.

Truyện ngắn “Đứa con người điên” của tác giả Tịnh Vũ là một câu chuyện buồn nhưng không bi luỵ. Bất kì người đàn bà nào sinh ra trên thế gian này cũng có quyền làm mẹ, dù họ có tật nguyền hay lâm vào hoàn cảnh thế nào. Người mẹ có thể khiếm khuyết nhưng đứa con là hạt ngọc đối với họ, người mẹ nào mà không yêu thương đứa con mình đứt ruột đẻ ra. Một người mẹ bị khiếm khuyết về thể chất và tinh thần, đứa con nhỏ thơ ngây được người mẹ ấy sinh ra lại càng là niềm an ủi lớn lao, là điểm tựa để họ sống. Nhân danh những thứ tốt đẹp nhưng cũng không thể tước đi quyền làm mẹ, quyền được yêu thương chăm sóc đứa con mình. Chi tiết đứa con nhỏ bị người ta bắt đi và người mẹ phản kháng bằng cách không ăn không uống, tự huỷ hoại bản thân mình là hành động mang ý chí và tình cảm mãnh liệt và chứng tỏ người mẹ ấy không hề điên. Sự đấu tranh mạnh mẽ và tình cảm mẫu tử thiêng liêng đã chiến thắng những toan tính ích kỉ, vật chất. Sự trở về của đứa con vừa là niềm vui tột cùng của người mẹ, vừa là minh chứng rằng tình người, sự yêu thương mới là điều đáng quý nhất đối với mỗi cá nhân và gia đình họ đang sống. Câu chuyện ám ảnh người đọc, người nghe, chạm đến lòng trắc ẩn của mỗi chúng ta và từ đó, chúng ta nhận ra những giá trị tốt đẹp, lòng yêu thương, tình người đã nâng đỡ con người vượt qua những sóng gió cuộc đời…(Lời bình của BTV Vân Khánh)

Quí vị và các bạn có thể thấy: Những tình tiết ban đầu của truyện khá gây tò mò và cuốn hút người đọc, người nghe. Nhân vật ông Độc bỏ phố lên rừng, nuôi một đứa trẻ mồ côi, nhặt được một đàn chó mới sinh, đi rừng phát hiện được một loại cây dược liệu quí có tác dụng cải lão hoàn đồng, bắt đầu làm giàu bằng việc trồng cây dược liệu quí đó. Nhưng loài cây này có một đặc điểm thu hút những thú dữ đến. Và rồi một cuộc giao tranh sinh tồn diễn ra. Tác giả đưa ra một loạt những dữ liệu như thế chuẩn bị cho một cốt truyện mang tính luận đề. Điều gì xảy đến với cây Mạ ly quí giá, với lũ chó, với ông Độc. Việc sở hữu cây dược liệu quí vô hình chung nuôi dưỡng cái ác, sự tham lam ích kỷ khiến con người ta trở nên mù quáng và hành xử ngày càng vô lối. Từng cấp độ của tội ác, từng nút thắt của xung đột được nhà văn dụng công xây dựng, đẩy dần lên tới đỉnh điểm là hành động chọc mù mắt những con chó. Cây Mạ ly như biểu tượng cho thứ dục vọng điên cuồng, thứ tham vọng có thể hủy hoại nhân cách, khiến con người trở nên thú tính. Và chính bởi dục vọng cùng sự ích kỷ, con người đã phải trả giá đắt. Vậy là nhà văn Thiên Sơn luôn thường trực trách nhiệm công dân của người cầm bút, dù ở thể loại tiểu thuyết, hay truyện ngắn, truyện của anh luôn mang sức nặng tải đạo, một lần nữa có tác dụng cảnh tỉnh sâu sắc. (Lời bình của BTV Lê Tuyết Mai)

Lấy bối cảnh núi rừng, “Nước mắt dành cho ai” của nhà văn Nguyễn Cẩm Hương đi theo một mô típ quen thuộc: câu chuyện của những người dạy học ở vùng cao. Tuy nhiên, ngay chính ở một đề tài tưởng như đã cũ đã quen, tác giả vẫn đủ sức kiến tạo bất ngờ và khơi gợi cảm xúc ở người đọc. Nhân vật chính là thầy giáo Vận, lên dạy học ở vùng cao ba năm. Chừng đấy thời gian, anh đã kịp quen với bản làng và nuôi một con khỉ tên là May, gần với tên Mai của người yêu… Khác với những truyện ngắn viết về việc gieo chữ, “Nước mắt dành cho ai” tập trung vào mối quan hệ giữa Vận và May. Việc Vận đem con khỉ nhỏ về nuôi xuất phát từ lòng tốt nhưng lại đem đến những hệ lụy không ngờ. Vận dựa vào May để thích nghi với môi trường mới còn nhiều khó khăn vất vả. May dựa vào Vận để thoát khỏi kiếp nấu cao. Nhưng mặt khác, sự tồn tại của nó bên cạnh Vận lại đem đến nhiều tình huống khó xử, nhất là khi con khỉ gần như đã mất hoàn toàn khả năng sống giữa rừng già… “Nước mắt dành cho ai” có nhiều trường đoạn xúc động, nhất là ở đoạn cuối. Trong đời, có những lúc không có lựa chọn nào tốt cho tất cả. Và sự êm ấm ở một nơi nào đó rất có thể được đổi bằng sự chênh vênh ở một nơi khác. (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)

Từ xưa đến nay những chuyện về tình mẫu tử luôn khiến người ta cảm động. Tình cảm, sự hi sinh mẹ dành cho con trong văn học, trong cuộc sống không bao giờ kể xiết. Câu chuyện về tình mẫu tử trong “Những ngọn gió băng đồng” của Nguyễn Thị Như Hiền lại càng đặc biệt vì nó có những hai người mẹ kép và hoàn cảnh lại rất khác thường. Mẹ là mẹ nhưng đồng thời là bà, chị là chị nhưng cũng chính là mẹ ruột. Một tình cảnh éo le và phức tạp mà có lẽ chỉ có tình mẫu tử mới giúp người ta vượt qua những đắng cay, tủi nhọc. Tình người, sự yêu thương đùm bọc, những đắng cay của số phận đến phút chót mới được tiết lộ hoàn toàn. Người mẹ nhỏ thật đặc biệt và lớn lao, người mẹ lớn lại càng cao cả thầm lặng hi sinh hơn nữa. Câu chuyện gần giống như cổ tích nhưng hoàn toàn có thể trong đời sống thật. Điều ý nghĩa nhất đối với người mẹ, người chị là tình yêu thương, sự hi sinh của của họ mang lại hạnh phúc, yên ổn cho đứa con, đứa em của mình. Niềm vui, cuộc sống bình yên của đứa con là phần thưởng lớn nhất dành cho mẹ, dù mẹ có phải âm thầm, lặng lẽ vượt qua bao nhiêu bão giông như thế nào. Một truyện ngắn đã khiến cho người đọc, người nghe cảm nhận đến dòng cuối cùng mà vẫn rưng rưng, cảm động và ngẫm ngợi (Lời bình của BTV Vân Khánh)