Môi trường quân ngũ với cường độ huấn luyện cao, yêu cầu sẵn sàng chiến đấu thường xuyên cùng nền nếp kỷ luật đã tôi rèn nên tinh thần và ý chí bền bỉ, không chỉ trên thao trường, trong nhiệm vụ, công tác mà còn trong trang viết của người chiến sĩ. Với nhà thơ trẻ Trần Việt Hoàng, tình yêu văn chương nảy nở từ những năm tháng trên ghế nhà trường phổ thông ở quê hương Hà Tĩnh, nối dài suốt thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Sĩ quan Chính trị qua những sáng tác thơ được in ấn và giới thiệu. Ở tuổi 24, Trần Việt Hoàng đã xuất bản tập thơ “Ngày chưa sương vội” và Trường ca “Bay phía mùa”.
Lấy bối cảnh Sài Gòn trước năm 1975 và kéo dài đến đời sống đương đại, truyện ngắn "Những cánh hoa rơi" của Ngô Nhân Đức được dẫn dắt qua hai ngôi kể thứ nhất lồng vào nhau đầy kín đáo. Câu chuyện đời của một vị sư già, từ chú tiểu bị cuốn vào cơn loạn lạc, phải hoàn tục rồi lại trở về cửa Phật, gắn với những cuộc gặp gỡ kỳ lạ và bao kiếp phụ nữ truân chuyên. Vượt lên sự phân định đúng - sai, tác phẩm làm sáng lên lòng trắc ẩn, tình thương con người và chất Phật tính không thể bị những xô bồ, hỗn loạn của cuộc đời làm phai nhạt. Qua vòng quay nhiều bất ngờ của số phận, mỗi nhân vật dần trưởng thành, tìm thấy con đường vượt lên chính mình.
Các bạn thân mến, trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya” hôm nay, mời các bạn cùng nghe truyện ngắn "Hương nắng đồi cam" của tác giả Nguyễn Hồng. Tác phẩm mang đến một câu chuyện nhẹ nhàng mà thấm đẫm tình người về hành trình xây dựng mái ấm trên mảnh đất xứ Nghệ nhiều nắng, nhiều gió của những con người giàu nghị lực. Ở đó, những vất vả của cuộc sống và thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên không làm vơi đi hơi ấm gia đình cùng tình làng nghĩa xóm. Qua những chi tiết mộc mạc, chân thực, truyện ngắn như một làn gió mát lành, gợi nhắc về niềm tin, sự kiên trì và vẻ đẹp của những điều bình dị.
Thành công của kiệt tác “Truyện Kiều” trước hết phải kể đến vai trò của ngôn ngữ. Đại thi hào Nguyễn Du được xem là “bậc thầy ngôn ngữ của dân tộc”. Tính cá thể hóa của ngôn ngữ là một đặc điểm nổi trội của “Truyện Kiều”. Trong văn chương, tính cá thể hóa được xem là yếu tố tự nhiên góp phần tạo nên nét riêng của mỗi tác phẩm, mỗi nhà văn. Đặc điểm này được thể hiện trên nhiều bình diện, cấp độ như cách dùng từ, đặt câu, miêu tả, trần thuật, sử dụng hình ảnh hay xây dựng hình tượng nghệ thuật… Trong “Truyện Kiều”, tính cá thể hóa được thể hiện rõ nét nhất qua ngôn ngữ của tác giả khi viết về nhân vật và ngôn ngữ của chính các nhân vật trong tác phẩm.
Nhà thơ Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại Quảng Ngãi. Ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1969; sau đó nhập ngũ, trở thành phóng viên, biên tập viên quân đội thuộc Chương trình Phát thanh Binh vận, Cục Nghiên cứu, Tổng cục Chính trị và Đài Tiếng nói Việt Nam. Cuối năm 1970, ông vào chiến trường Nam Bộ, công tác tại Đài Phát thanh Giải phóng và Trung ương Cục miền Nam.
Thanh Thảo sáng tác ở nhiều thể loại, nhưng đặc sắc hơn cả vẫn là thơ. Ông đã giành nhiều giải thưởng văn học danh giá như Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam các năm 1979 và 2012; Giải thưởng Ban Văn học Quốc phòng, Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1995; Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật năm 2001.
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam và nhà thơ Thanh Thảo tròn 80 tuổi, chương trình “Đôi bạn văn chương” của Ban Văn học - Nghệ thuật - Âm nhạc dành cuộc trò chuyện về chân dung thơ ông với chủ đề: “Thanh Thảo - Từ trảng cỏ đến chân trời”.
Cuộc đời làm vợ, làm mẹ là một hành trình dài đan xen nhiều cảm xúc, có hạnh phúc và cả những hi sinh. Bao truân chuyên, khó nhọc vẫn cứ lặng lẽ tận hiến vì chồng, vì con. Thế rồi lắm khi nhận lại không phải là sự ghi ơn mà là bạc bẽo lòng người. “Tiếng đêm” - Một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thế Hùng như một bản hợp âm buồn của bóng tối xứ rừng ruộng bao trùm thân phận cuộc đời thẳm sâu đau khổ và lãng quên.

Ở phần đầu truyện ngắn "Ngôi nhà xưa bên suối" của nhà văn Cao Duy Sơn, cuộc đời thầy Hạc hiện lên với biết bao thăng trầm, oan khuất. Rời Hà Nội lên vùng cao dạy học, người thầy thanh bạch và nhân hậu ấy không chỉ tận tụy với học trò mà còn cùng vợ cưu mang Lữ - đứa con gái bé bỏng bị Bền, người học trò cũ của thầy, bỏ lại trong một đêm đông giá rét.
Trong phần cuối, sau khi người vợ hiền qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, thầy Hạc một mình nuôi dưỡng Lữ và Thư khôn lớn trong ngôi nhà nhỏ bên suối Cun. Những tưởng cuộc sống của ba cha con sẽ mãi bình lặng thì sau gần hai mươi năm, Bền bất ngờ trở về, mang theo những món quà đắt tiền và mong muốn nhận lại con gái. Giữa tình mẫu tử, công ơn dưỡng dục và sự gắn bó đã trở thành máu thịt, thầy Hạc rơi vào một lựa chọn đầy đau đớn. Lữ sẽ quyết định ra sao khi biết sự thật về thân thế của mình? Cuộc gặp gỡ giữa hai mẹ con sẽ mở ra một cuộc đoàn tụ hay thêm một lần khoét sâu những tổn thương của quá khứ? Mời thính giả đón nghe phần cuối truyện ngắn "Ngôi nhà xưa bên suối" của nhà văn Cao Duy Sơn.
Cao Duy Sơn là cây bút tiêu biểu viết về miền núi và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Văn chương của ông gây ấn tượng bởi không gian đậm bản sắc vùng cao, ngôn ngữ giàu sức gợi cùng những trang viết thấm đẫm tình người. "Ngôi nhà xưa bên suối" là truyện ngắn nổi tiếng được chọn làm tên chung cho tập truyện từng giành Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008 và Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2009.
Bên dòng suối Cun hiền hòa, ngôi nhà cũ của thầy Hạc hiện lên bình dị với vườn rau, hàng rào tre và những luống hoa bốn mùa khoe sắc. Nhưng phía sau khung cảnh thanh bình ấy là câu chuyện về một người thầy mẫu mực từng trải qua bao oan khuất, tổn thương và những khúc quanh nghiệt ngã của số phận.
Thế hệ làm thơ sinh trưởng sau ngày đất nước thống nhất viết như thế nào về lịch sử đấu tranh của đất nước, về những thời khắc thiêng liêng đã diễn ra trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc? Phải chăng chỉ qua những bài học và câu chuyện về sự kiện, nhân chứng? Bác Hồ từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu của ta”. Chính lòng yêu nước, truyền thống tự hào dân tộc được truyền dẫn, tiếp nối qua từng thế hệ là chất xúc tác đặc biệt khơi lên những điểm sáng trong các thi phẩm viết về Đảng, Bác Hồ, quê hương, đất nước. Nhà thơ Lê Gia Hoài, sinh năm 1977, người Vĩnh Phúc (cũ), nay thuộc Phú Thọ, Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ là người dành nhiều tâm sức cho các đề tài này. Anh tâm sự cùng Tiếng thơ nguồn cảm hứng về hình tượng Bác Hồ và những thời khắc lịch sử quan trọng của đất nước.
Kế thừa, phát huy được những khuynh hướng sáng tạo ngôn ngữ khác biệt, độc đáo, trong đó có việc sử dụng tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Đại thi hào Nguyễn Du đã đưa “Truyện Kiều” trở thành mẫu mực có một không hai của nền văn học trung đại nước ta.
Đại thi hào Nguyễn Du quê Hà Tĩnh, sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, sinh thời ông sống nhiều vùng quê từ Phú Xuân ra Bắc Hà. Vì có những thời gian về tá túc tại Hà Tĩnh, có khi liên tục tới sáu năm trời nên ông hiểu tiếng Nghệ và trong sáng tác văn chương, thi thoảng ông có dùng một ít từ Nghệ có chọn lọc. Số lượng tiếng Nghệ Tĩnh trong Truyện Kiều khá ít, chắc đếm chưa hết trên đầu ngón tay và có một số từ hết sức đặc trưng mà chỉ người địa phương mới thông tỏ.
Truyện ngắn "Hư phù" của cây bút trẻ Phạm Giai Quỳnh đưa người đọc ngược dòng thời gian trở về một góc Hà Nội xưa cũ. Với lối viết giàu sức gợi, Phạm Giai Quỳnh không cố tình đẩy câu chuyện lên những cao trào kịch tính, mà chọn cách đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, tạo ra một câu chuyện có nhịp điệu chậm rãi nhưng vẫn có sức cuốn hút riêng.
Quê hương đất nước luôn là niềm cảm hứng lâu bền trong thi ca kim cổ. Trong lịch sử thơ Việt Nam hiện đại, chúng ta không chỉ bắt gặp những tác phẩm mang tầm vóc khái quát mà còn có vô số những bài thơ về các vùng miền cụ thể trên đất nước, nơi tác giả được sinh ra lớn lên hoặc từng đi qua và có những kỷ niệm khó quên. Vào dịp trung tuần tháng 3 vừa qua, một tuyển thơ và lời bình mang tên Những miền quê trong thơ Việt của hai đồng chủ biên là Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ đã được NXB Đại học Sư phạm chính thức phát hành trên toàn quốc. Ấn phẩm gồm 36 bài thơ của 34 tác giả, hầu hết là những sáng tác đã được ghi dấu trong lòng bạn đọc cả nước nhiều thập niên qua. Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng 8 và quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm nay, chương trình "Đôi bạn văn chương" của Ban Văn học - Nghệ thuật - Âm nhạc (VOV3) xin được dành một cuộc trò chuyện xoay quanh các tác phẩm đã được đưa vào tuyển thơ "Những miền quê trong thơ Việt".
Những năm qua, thể thức thơ Namkau do nhà thơ Trần Quang Quý khởi xướng nhận được sự quan tâm, thực hành của khá đông đảo các tác giả, người làm thơ. Sự ra đời của Câu lạc bộ thơ Namkau quy tụ những tác giả sáng tác thể thức thơ mới này. Sau khi nhà thơ Trần Quang Quý qua đời, Ban Chủ nhiệm của CLB vẫn duy trì và phát triển hoạt động. Sự ra đời của tuyển thơ song ngữ “Thu Namkau” cho thấy nỗ lực giới thiệu và khẳng định vị thế của một thể thức thơ mới, nhiều triển vọng. 124 bài thơ của 41 tác giả được giới thiệu trong hơn 260 trang của tuyển thơ song ngữ “Thu Namkau” – Những sáng tác thấm đẫm phong vị mùa Thu được thể hiện qua một thể thức thơ mới được sáng tạo và khởi xướng khoảng chục năm trở lại đây. Chừng ấy tác giả với những sáng tác tập trung vào một đề tài đã cho thấy sức hút của thể thức thơ này, đặc biệt với chủ đề mùa Thu lâu nay đã quen thuộc trong thơ ca. Qua “tấm áo” thơ Namkau, mùa Thu càng trở nên thơ mộng, lãng đãng, gợi tưởng nhiều cảm xúc của lòng người.