Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương mà nó để lại đôi khi vẫn cần nhiều hơn một thế hệ để chữa lành. Có những câu chuyện không chỉ được viết bằng ký ức của người sống, mà còn được kể bằng tiếng lòng của những người đã nằm xuống dưới lòng đất mẹ.
Trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya” hôm nay, mời quý vị cùng đến với một góc nhìn đầy bao dung về chiến tranh qua truyện ngắn 'Đất lở' của nhà văn, người lính Mai Tiến Nghị.
Đây là một tác phẩm xúc động về sự hòa giải dân tộc và lòng vị tha của những người lính. Từ sự hy sinh trên chiến trường đến cuộc gặp gỡ định mệnh của thế hệ mai sau, câu chuyện là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình và sức mạnh của tính nhân văn. Mời các bạn cùng đón nghe!

Nhà văn Như Bình được biết đến như một gương mặt thơ đầy cá tính và một họa sĩ được nhiều người yêu mến. Hiện chị là Trưởng ban Chuyên đề báo Công an nhân dân. Không chỉ ghi dấu ấn ở mảng thơ ca và hội họa, nhà văn Như Bình còn để lại những dấu ấn đậm nét về truyện ngắn qua 4 tập tác phẩm đã xuất bản.
Truyện ngắn "Đêm nguyệt thực" của nhà văn Như Bình là tác phẩm từng đoạt giải Nhất báo Văn nghệ trẻ năm 1996 và vừa được in lại trong tuyển tập "Lửa trên sông" (NXB Hội Nhà văn, 2025). Câu chuyện là bản tự sự đau xót nhưng cũng đầy khát khao về hạnh phúc của hai tâm hồn cô độc:
Lão Mốc: Người đàn ông góa vợ, sống lầm lũi trong sự cô đơn. Chị The: Người mẹ đơn thân tật nguyền, mang trên mình vết sẹo tinh thần từ quá khứ nhưng vẫn kiên cường nuôi con và âm thầm nuôi nấng khao khát về một mái ấm.
Giữa những rào cản nghiệt ngã của định kiến và sự ngăn trở từ người thân, liệu ánh sáng hạnh phúc có kịp soi rọi cuộc đời họ, hay sẽ tan biến như một bóng ma trong đêm nguyệt thực? Mời quý vị cùng theo dõi tác phẩm.
Chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm trong các tác phẩm của Đại thi hào Nguyễn Du, đặc biệt là “Truyện Kiều”. Có thể khẳng định “Tình thương” là chữ trọng tâm, là ký hiệu nghệ thuật cơ bản để tác giả soi rọi vào tâm trạng và số phận nhân vật. Ký hiệu chủ của cái “Tình” trong “Truyện Kiều” là chữ “Thương”. Có thể nói Đại thi hào Nguyễn Du đã “xây dựng một môi trường tình thương trong tác phẩm”.
Nhà văn Lộ Dao (sinh năm 1949 – mất năm 1992), tên thật là Vương Vệ Quốc, quê quán Thiểm Bắc (tức Bắc Thiểm Tây), Trung Quốc. Ông là tác giả của trường thiên tiểu thuyết lừng danh, đạt giải Mao Thuẫn năm 1991: Thế giới bình thường.
Truyện ngắn "Ngày vui sướng nhất đời" của ông được kể một cách giản dị, bắt đầu từ chiếc đài cassette, nhưng lại mở ra một chương ký ức sâu kín về những ngày khốn khó. Kỷ niệm đáng nhớ nhất đời mà người cha muốn để lại cho con cháu mình hóa ra lại là một kỷ niệm được phong kín về nước mắt đàn ông. Đây là một câu chuyện lồng trong truyện, ấm áp và chân thật. Mời quý vị cùng lắng nghe để cảm nhận "niềm an ủi và sự ấm áp vô cùng" mà tác giả muốn gửi gắm, qua bản chuyển ngữ của dịch giả Châu Hải Đường.

Trong dòng chảy thi ca hiện nay, những cuộc thi thơ luôn đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa người sáng tác và độc giả, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa hiện tại và quá khứ. Cuộc thi “Thơ ca & Nguồn cội” do những người dân làng Chùa (quê hương của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều- Chủ tịch Hội nhà văn VN) tổ chức không chỉ là một sân chơi nghệ thuật mà còn là nơi bồi đắp tình cảm, khơi dậy trong mỗi người niềm tự hào và gắn bó với quê hương, con người và nguồn cội.
Chỉ trong vòng 4 tháng phát động từ tháng 2 đến hết tháng 5 năm nay cuộc thi “Thơ ca và Nguồn cội” đã nhận được hơn 1500 bài thơ của hơn 500 tác giả ở khắp mọi miền đất nước gửi đến, đặc biệt có nhiều nhà thơ nước ngoài nổi tiếng cũng gửi thơ đến dự thi. Sau những phiên làm việc chuyên nghiệp, khoa học, nghiêm túc và công tâm, các thành viên Ban giám khảo cuộc thi bao gồm Nhà thơ Đinh Thị Như Thuý, Nhà thơ Phạm Đương, Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú, Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và Nhà văn Phạm Lưu Vũ đã chọn được những tác phẩm xứng đáng để trao giải. Ban tổ chức và Ban giám khảo cuộc thi đã công bố kết quả với 40 tác giải được trao giải thưởng. Ba giải Nhất cuộc thi “Thơ ca và Nguồn cội” lần thứ ba được trao cho các nhà thơ Lý Hữu Lương, Trương Xuân Thiên và Trang Thanh, mỗi tác giả một chùm 3 bài thơ. Giải Nhì được trao cho 7 tác giả, mỗi tác giả 2 bài thơ bao gồm Nguyễn Hoàng Anh Thư, Châu Anh Tuấn, Nguyễn Văn Song, Lê Đình Tiến, Vũ Tuyết Nhung, Khương Thị Mến, Bùi Việt Phương. Giải C được trao cho 16 tác giả, mỗi người 1 bài thơ. Giải đặc biệt dành cho 5 tác giả đã mang lại cho thơ ca và cuộc sống vẻ đẹp và một sức mạnh đặc biệt. Giải Cống hiến được trao cho 9 tác giả nước ngoài đã cống hiến cho Thơ ca và Hòa bình trên trái đất.
Có thể nói đối ngẫu cùng điển cố, sóng đôi, ẩn dụ là những biện pháp tu từ tiêu biểu cho phong cách học cổ điển của Đại thi hào Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”, trong đó đối ngẫu đã góp phần làm cho nghệ thuật tự sự sắc nét, hài hoà, giàu nhạc tính, vừa tạo thành chất thơ đậm đà cho tác phẩm, vừa làm nên vẻ đẹp trau chuốt tương xứng cho lời văn. Nếu ẩn dụ, điển cố làm ngôn ngữ Truyện Kiều trở thành ngôn ngữ của biểu tượng, nội tại thì đối ngẫu làm cho tác phẩm thấm nhuần chất nhạc, vừa giàu có chất hoạ hài hoà, vừa nhiều tương phản, tương xứng nhịp nhàng, cân đối, đầy nhịp điệu, một phẩm chất không thể thiếu của mọi ngôn ngữ nghệ thuật đích thực.
Phép đối ngẫu là một thủ pháp nghệ thuật sử dụng sự cân xứng, hài hòa về ngữ âm, từ vựng và ý nghĩa giữa hai vế trong câu thơ, tạo nên sự chặt chẽ và tinh tế trong cách diễn đạt. Đối ngẫu trong “Truyện Kiều” là một hiện tượng đặc biệt, bởi trong truyện Nôm khuyết danh, dân gian không thấy có hình thức tiểu đối. Phép đối ngẫu đã nâng cao chất lượng tự sự, miêu tả nghệ thuật của tác phẩm.
Giữa nhịp sống hối hả, bề bộn của đô thị hiện đại, tâm trí và cảm xúc con người dường như cũng đang dần trở nên bão hòa, chai sạn. Những cử chỉ, suy nghĩ quan tâm, chia sẻ với gia đình, người thân bỗng trở nên thưa thớt, nhường chỗ cho sự tuần tự lạnh lùng của một nếp sống công nghiệp.
Người trẻ mải miết với công việc, còn người già thì cô độc trong chính ngôi nhà của mình. Đâu mới là nơi lưu trú an yên cho mỗi người? Làm thế nào để chúng ta tìm lại cơ hội gặp gỡ, kết nối tình thương và lòng trắc ẩn?
Truyện ngắn “Thư viện người” của tác giả Lê Văn Thân, một lần nữa sẽ khiến chúng ta phải nghĩ về nỗi niềm thế hệ, về sự lắng nghe, và về tiếng nói thiết tha của tình người, tình đời.
Nguyễn Hải Yến – một nhà văn với phong cách đậm chất làng quê, nhưng lại luôn chạm đến những vấn đề cốt lõi nhất, gai góc nhất của thân phận con người Việt Nam. Chị sử dụng ngôn ngữ "mắng như hát" rất đời để kể về những bi kịch, mà ở đó, quá khứ không bao giờ chịu ngủ yên. Truyện ngắn “Nhân gian một cõi”: Nơi hận thù đã trở thành một thứ gia bảo. Nỗi hận đó đã ăn sâu, hóa thành những lời chửi rủa ngoa ngôn kéo dài suốt hàng thập kỷ. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bi kịch cá nhân và lịch sử nghiệt ngã đan xen, trói buộc hai gia đình lại với nhau? Và đâu là ranh giới giữa sự chịu đựng câm lặng và tình yêu thương vô điều kiện? Liệu có sức mạnh nào đủ lớn, đủ kiên trì để hóa giải niềm sân hận đã kéo dài qua nửa thế kỷ?
Mời quý vị và các bạn cùng lắng nghe "Nhân gian một cõi" – một câu chuyện về hành trình tìm kiếm sự hàn gắn và giải thoát khỏi gánh nặng của quá khứ.
Trong các cây bút thơ nữ đương đại, Nguyễn Thị Kim Nhung đang là cái tên gây được nhiều sự chú ý. Sinh năm 1990, quê Cẩm Khê, Phú Thọ, Kim Nhung tốt nghiệp khoa Viết văn – Báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội và hiện đang công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau Thức cùng tưởng tượng (2019) và trường ca Từ phía sương buông (2021). Dần sáng (NXB Hội Nhà văn) là tập thơ thứ ba của Kim Nhung vừa ra mắt bạn đọc vào đầu mùa thu năm nay. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật – Âm nhạc (VOV3), Đài Tiếng nói VN lần này xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Kim Nhung với tên gọi: Nguyễn Thị Kim Nhung – Chú ngựa mùa thu chưa đi hết cánh đồng.
Bản lĩnh và nghị lực của con người luôn được tôi luyện khi đối diện với những tai ương. Nhưng sức mạnh lớn nhất giúp ta vượt qua gập ghềnh lại chính là tình thân, là niềm tin, là nguồn sức mạnh phi thường đến từ gia đình. Dẫu ra sao, tổ ấm vẫn luôn bao dung, đón đợi và xoa dịu mỗi con người sau những giai đoạn nổi loạn, lầm lạc.
“Những bước chân khập khiễng” không chỉ khập khiễng vì dáng đi của người mẹ giữa dòng đời hối hả, mà còn tan nát vì nỗi lo giữ con khỏi vực thẳm. Trong cô đơn và rối bời, người mẹ phải vật lộn tìm cách kéo con về, tái tê nhận ra mình trở nên nhỏ bé, tội nghiệp giữa nhịp đời khấp khểnh.
“Những bước chân khập khiễng” là thước phim chân thực về nội lực người mẹ, là cội nguồn yêu thương dẫn lối con người trở về, đồng thời là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị truyền thống và sự tha thứ vô điều kiện trong gia đình.

Truyện ngắn "Phật trong hẻm nhỏ" của nhà văn Huỳnh Trọng Khang lấy bối cảnh là một ngôi chùa nhỏ nằm khuất trong hẻm sâu giữa lòng Sài Gòn, nơi sư trụ trì thầy Nguyên Vấn một mình tu hành. Xuất thân là đứa trẻ bị bỏ rơi, thầy luôn khao khát hơi ấm và sự hiện diện của con người. Với lòng từ bi vô lượng của người tu hành, thầy đã cưu mang Thằng Thọt đang bị truy sát và sau đó là Ngọc, vợ hờ hơi "ngẫn" của hắn.
Tuy nhiên, chính sự bao dung này đã dẫn đến tai họa: ngôi chùa bị cháy rụi sau một lần sơ ý của Ngọc. Chứng kiến cảnh hoang tàn, điều đáng kinh ngạc là thầy Nguyên Vấn vẫn thản nhiên, không một lời than vãn hay trách móc, mà chỉ thốt lên hai chữ: "Én kìa!"
Truyện ngắn nhẹ nhàng nhưng sâu sắc này mang đến một thông điệp mạnh mẽ: Phật không cần tìm đâu xa. Thầy Nguyên Vấn, với tấm lòng rộng lượng, sẵn sàng giúp đỡ mà không chút nghi ngại hay oán trách, chính là một vị Phật sống, là người lan tỏa tình yêu vô lượng giữa thế gian này, coi mọi chuyện đời là thứ thuận theo nhân duyên.
Mời quý thính giả cùng lắng nghe truyện ngắn "Phật trong hẻm nhỏ" để cùng chiêm nghiệm về lòng từ bi và sự bao dung vô bờ bến.
Người Việt chúng ta từ xưa đến nay thường sử dụng chữ tôi với ba nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất: Tôi là đại từ nhân xưng dùng để xưng hô. Nghĩa thứ hai: “Tôi” là danh từ được dùng để chỉ quan hệ. Nghĩa thứ ba: “Tôi” là động từ. Cũng là đại từ nhân xưng nhưng chữ tôi có khác chữ ta.Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”, nhà Phê bình văn học Hoài Thanh từng viết: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân. Chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình”. Vì thế, trong văn học Trung đại, chữ ta xuất hiện khá phổ biến và Truyện Kiều cũng không là ngoại lệ. Trong văn học Trung đại chữ “tôi” được dùng với nghĩa danh từ: bầy tôi, tôi tớ, tôi đòi… không hiếm, nhưng chữ “tôi” dùng với nghĩa đại từ nhân xưng thì vô cùng hiếm hoi. Vậy mà trong “Truyện Kiều”, Đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng một cơ số chữ “tôi” với sắc thái và cách biến hoá vô cùng tài tình, sắc sảo.
Nhà thơ Bùi Kim Anh sinh năm 1948 tại Thái Bình, tốt nghiệp khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, cả cuộc đời bà gắn bó với nghề dạy học. Cùng với dạy học thì thơ ca như một hành trang không thể thiếu của bà suốt mấy chục năm qua. Nhà thơ Bùi Kim Anh đã xuất bản 12 tập thơ với nhiều bài tạo ấn tượng sâu đậm trong lòng công chúng yêu văn nghệ. Nhân dịp 20 tháng 11 năm nay, tháng tri ân những người thày cô giáo, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật Âm nhạc (VOV3), Đài Tiếng nói Việt Nam xin dành một chương trình trò chuyện về chân dung thơ Bùi Kim Anh với tên gọi: Bùi Kim Anh – Người đàn bà không ngủ.