Nhà thơ Hoàng Trung Thông thuộc thế hệ cầm bút trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông viết nghiên cứu phê bình văn học, truyện ngắn, dịch thuật song nổi bật hơn cả vẫn là thơ với 9 tập tác phẩm xuất bản từ 1955 đến 1992. Hoàng Trung Thông từng giữ nhiều trọng trách trong các cơ quan văn nghệ như: TBT Báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc NXB Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương, Viện trưởng Viện Văn học. Thế nhưng cả cuộc đời ông sống trong cảnh nghèo, thanh bạch. Hoàng Trung Thông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001 và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2022. Nhân dịp kỷ niệm tròn 100 năm ngày sinh nhà thơ Hoàng Trung Thông, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật – Âm nhạc (VOV3), Đài Tiếng nói Việt Nam xin dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ ông với tên gọi: Hoàng Trung Thông – Đất và trăng.

Nhan đề của truyện ngắn cũng là tên nhân vật chính, cậu bé Tanoo, đứa con quý báu trong một gia đình hiếm muộn, sinh ra đã yếu ớt do mắc bệnh tim bẩm sinh. Xuyên suốt câu chuyện, tác giả đi sâu vào nỗi lòng người mẹ với những nỗi buồn, nỗi lo lắng, bất an khi đứa con mình sinh ra không được khỏe mạnh như những đứa trẻ bình thường khác. Cuộc sống của đôi vợ chồng xoay quanh đứa trẻ đặc biệt và góc nhìn của xã hội càng xoáy sâu vào nỗi lòng của họ. Nhưng bao trùm câu chuyện vẫn là tình yêu vô hạn của người mẹ dành cho đứa con bé nhỏ của mình. Chị đã dành toàn bộ tâm trí, để quan sát, lắng nghe từng cử động, thay đổi, chuyển biến của con. Nhưng trong những khoảnh khắc tưởng chừng như ngộp thở, trái tim như bị đè nén thì vẫn len lỏi niềm vui, niềm hạnh phúc làm mẹ. Những cảm xúc mâu thuẫn đan xen nhưng sáng lên vẫn là niềm tin, niềm hi vọng về sự sống, sự tiếp nối. Mới hay dù bất cứ nơi đâu, trái tim người mẹ vẫn luôn hướng về con, vì con. Bằng lời kể mộc mạc, một câu chuyện bình dị, không giàu kịch tính nhưng lại gieo cho người đọc, người nghe những cảm xúc con người, rất đỗi nhân văn…
Nhà thơ Hoàng Trung Thông là một tên tuổi trong làng thơ nước ta. Thơ ông đánh thức tình yêu với con người, nỗ lực đấu tranh vì những lý tưởng nhân đạo. Chính vì thế, sáng tác của Hoàng Trung Thông ảnh hưởng mạnh mẽ và tác động tới đời sống nhiều thế hệ. Nhân kỷ niệm 100 năm sinh của Nhà thơ Hoàng Trung Thông, mới đây Viện Văn học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tọa đàm nhằm tưởng nhớ và tôn vinh gương mặt tiêu biểu của nền văn học cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Tham dự tọa đàm, BTV Tiếng thơ đã có ghi nhận về những đóng góp của Hoàng Trung Thông trong sáng tạo thơ ca.
Bên cạnh cảm xúc trữ tình, ca dao còn là tiếng nói của quần chúng nhân dân với những nhân vật, sự kiện và hiện tượng trong xã hội đương thời. Trước những biến cố liên quan đến vận mệnh dân tộc và đất nước, dân gian cũng sáng tác ra các câu ca còn ý nghĩa tới hôm nay.
Lâu nay, tên tuổi nhà thơ Thuận Hữu được công chúng yêu thơ biết đến qua thi phẩm “Những phút xao lòng”. Bài thơ nói lên được quy luật tình cảm, cảm xúc của con người và đã chạm tới sự đồng điệu của nhiều bạn đọc. Mới đây, sau một thời gian khá dài ít công bố tác phẩm, nhà thơ Thuận Hữu ra mắt tuyển thơ “Nhặt dọc đường”. Tuyển thơ hình thành từ ý tưởng gom nhặt những câu thơ ra đời trên hành trình cuộc sống, từng vùng đất nhà thơ Thuận Hữu đã đi qua. Bao cảm xúc buồn vui thấm vào trong từng tứ thơ hồn hậu, chân tình.
Tác giả Vũ Phạm Chánh sinh năm 1936 tại Đôn Thư, Thanh Oai, Hà Nội. Cả cuộc đời công chức của ông gắn với nghề kỹ sư cầu đường, ông cũng là TBT Tạp chí Cầu đường Việt Nam từ năm 1987 đến năm 2007. Là cháu nội của Thám hoa Vũ Phạm Hàm, tình yêu văn chương chữ nghĩa được bồi đắp trong ông từ thuở ấu thơ. Sau này, tuy hoạt động về khoa học tự nhiên nhưng ông vẫn miệt mài sáng tác. Vũ Phạm Chánh đã xuất bản 4 tập truyện ký, trong đó tập Mặt đường cháy bỏng đã dành giải Nhì cuộc thi sáng tác văn học về đề tài giao thông vận tải năm 2015, do Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải tổ chức. Trong chương trình Đọc truyện đêm khuya lần này, chúng tôi xin được gửi tới quý thính giả một truyện ngắn của Vũ Phạm Chánh với tên gọi Hoa suối ngầm. Tác phẩm được chọn làm tên chung cho tập truyện ngắn của ông vừa ra mắt bạn đọc năm 2024. (Đọc truyện đêm khuya 15/5/2025)
Trong lịch sử văn học dân tộc ta và thế giới chưa có danh nhân nào được ca dao hóa với số lượng nhiều và sâu đậm nghĩa tình như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân khắp mọi miền đất nước đã sáng tác ca dao về Bác. Những câu ca hiện đại gửi gắm tình cảm sâu nặng của đồng bào với vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, người đã hy sinh cả cuộc đời tận trung với nước, tận hiếu với dân.
Nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại thuộc đội ngũ các tác giả hậu chiến, khẳng định tên tuổi của mình trong giai đoạn sau 1975. Nguyễn Sĩ Đại quê Hà Tĩnh, từng tham gia quân đội, tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội và là tiến sĩ văn học, chuyên ngành Hán Nôm. Ông có nhiều câu thơ, bài thơ gây được ấn tượng đậm nét trong lòng đông đảo bạn đọc, đặc biệt là các thế hệ học sinh sinh viên. Năm nay, nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại vừa tròn 70 tuổi với một hành trình hơn 40 năm sáng tác. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật – Âm nhạc lần này xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Nguyễn Sĩ Đại với tên gọi: Nguyễn Sĩ Đại – Lòng như cờ không một nếp nhăn.

Khi gửi truyện ngắn Khói thảo cam tới chương trình, Bảo Thương có chia sẻ rằng: “Tôi viết truyện ngắn này trong một lần về Phú Yên. Dòng sông Ba còn đây, cửa biển còn đây, câu chuyện của những cựu binh phía bên này và bên kia vẫn kể cho nhau nghe về những hạm đội biển, những con tàu bị đánh chìm ngoài cửa sông, hoặc trên đại dương, trong những ngày đầu năm 1975, cùng những trận đánh của quân Giải Phóng…đã thôi thúc tôi viết truyện ngắn này…”. Câu chuyện kể về cuộc tình tay ba đầy tréo ngoe giữa Cúc, Cương và Thạch. Cương và Thạch, hai người lính vốn ở hai chiến tuyến khác nhau, họ là ân nhân của nhau trong chiến tranh, rồi theo nghĩa nào đó, họ cũng là ân nhân của nhau trong thời bình, khi cùng cưu mang, chở che, và làm chồng của Cúc, làm cha của bé Khương. Sự trớ trêu của mối tình, đã buộc họ phải lựa chọn. Cuối cùng, họ đã chọn ra đi, để nhường hạnh phúc cho người còn lại. Câu chuyện tình yêu lứa đôi và số phận đầy thương tâm, trắc trở, nhưng vượt lên trên tất cả là tình người cao cả, là ứng xử nhân văn đẹp đẽ giữa con người với con người. Chiến tranh nào rồi cũng qua, đau thương nào rồi cũng liền sẹo, giờ đây chúng ta hãy biết khép lại quá khứ để hướng đến tương lai tươi sáng hơn. Tương lai cho mỗi con người, tương lai cho một dân tộc thống nhất, toàn vẹn, đoàn kết và giàu mạnh. Đó phải chăng cũng là điều mà tác giả muốn gửi gắm qua truyện ngắn này?!
Tục ngữ, ca dao tuy không phải là triết học nhưng nghiên cứu, tìm hiểu, ta sẽ thấy một mảng nội dung của tục ngữ, ca dao rất gần gũi với một số tư tưởng triết học. Như ta đã biết, tục ngữ, ca dao được làm ra với mục đích cố gắng phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người. Do đó, nhiều người gọi tục ngữ, ca dao là “'triết lý dân gian”, “triết học của nhân dân lao động”.
Không phải ngẫu nhiên mà Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich đã đoạt giải Nobel Văn học năm 2015, dù tác phẩm của bà không phải là văn chương hư cấu. Bởi, không cần hư cấu, những chấn thương chiến tranh mà phụ nữ phải chịu đựng có khi còn vượt xa khả năng tưởng tượng của độc giả, của nhà văn. Có quá nhiều bi kịch của phụ nữ trong và sau chiến tranh cần phải được lí giải từ cái nhìn của nữ giới. Ở nước ta, số phận người phụ nữ thời hậu chiến cũng là đề tài được nhiều nhà văn sáng tác, trong đó ảm ảnh hơn cả là truyện ngắn Người sót lại của rừng cười của nhà văn Võ Thị Hảo. Chương trình Đọc truyện đêm khuya hôm nay, xin được giới thiệu cùng các bạn hai tác phẩm viết về đề tài ấy: Truyện ngắn “Gót lữ đoàn” của nhà văn Nguyễn Thế Tường và “Mùa chim bay đi” của nhà văn Lê Trâm::
Hơn 40 thi phẩm trong tuyển tập thơ “Cùng Việt Nam” là tiếng nói từ tâm hồn các nhà thơ ở đất nước Tây Ban Nha gửi tới đất nước chúng ta trong thời kỳ chiến tranh ác liệt. Điều đó đã cho thấy sự nhất tâm và lòng trắc ẩn của các nhà thơ Tây Ban Nha trong tinh thần đồng hành, cổ vũ một dân tộc đang phải trải qua những đau thương, mất mát. Cao hơn nữa, đó là tinh thần phản chiến mạnh mẽ, tiếng nói lan tỏa tới cộng đồng quốc tế, giúp nhân dân thế giới hiểu thêm về phẩm chất anh dũng, quật cường, từ đó tiếp thêm niềm tin vào chiến thắng của lẽ phải, của chính nghĩa.
Những ai từng đến, gắn bó và trót “phải lòng” "đất sen hồng" Đồng Tháp đều thuộc nằm lòng những câu ca về xứ sở này. Tính cách, hồn cốt và những đặc trưng về đất và người nơi đây gói trong những vần ca dao mộc mạc, ân tình
Nhìn lại đội ngũ các nhà văn nhà thơ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đã có không ít người ngã xuống nơi chiến trường, khi tài năng đang bắt đầu vào độ chín. Có thể kể đến những cái tên như Vũ Đình Văn, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Trọng Định, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Thi…Và trong số đó, không thể quên nhà thơ – liệt sĩ Lê Anh Xuân. 28 tuổi đời, tác phẩm để lại của Lê Anh Xuân mới chỉ khoảng trên dưới 60 bài thơ, một trường ca và một tập văn xuôi. Thế nhưng ông đã neo giữ tên mình vào một vị trí chắc chắn trong thi ca Việt Nam hiện đại nói chung, trong nền thơ chống Mỹ nói riêng. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất đất nước, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật – Âm nhạc lần này xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Lê Anh Xuân với tên gọi: Lê Anh Xuân – Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.