Có bao giờ mỗi chúng ta tự hỏi, cuộc sống của loài người sẽ ra sao nếu một ngày không còn ánh sáng. Nhờ ánh sáng mà trái đất mới có sự sống, loài người mới phân biệt được ngày đêm, cây cối mới xanh tươi. Mọi hoạt động phát triển của con người đều không thể thiếu đi ánh sáng. Và thứ ánh sáng kỳ diệu, đẹp đẽ nhất trong cõi nhân gian ấy chính là ánh nắng, thứ ánh sáng tự nhiên chiếu xuống bởi mặt trời. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà ánh nắng đã trở thành cảm hứng cho biết bao tác phẩm văn học nghệ thuật, trong đó có thi ca. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6), Đài Tiếng nói Việt Nam lần này xin dành một cuộc trò chuyện với chủ đề: Nắng trong thi ca Việt
Mới đây Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Gallery 39 đã tổ chức sự kiện ra mắt cuốn sách Di Cảo và trưng bày một số trang thủ bút của nhà thơ, nhạc sĩ Đặng Đình Hưng nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Cuốn sách gồm các tập thơ như “Rra”, “Songe A”, Sử thi “Phù Đổng ca” cùng một số các trang thủ bút các tập thơ của nhà thơ, nhạc sĩ. Lời bạt do nhà thơ Nguyễn Thụy Kha viết. Phần phụ lục gồm Thư của Trần Dần gửi Đặng Đình Hưng, chân dung Đặng Đình Hưng qua ảnh của nhiếp ảnh gia Hà Tường, các bài viết của các tác giả như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phan Đan. Tham dự sự kiện ra mắt cuốn sách “Di Cảo’ và trưng bày một số trang thủ bút của nhà thơ, nhạc sĩ Đặng Đình Hưng, BTV Võ Hà đã có những ghi nhận.

Quý vị và các bạn thân mến, tục ngữ ta từ xưa đã có câu “Gieo nhân nào, gặt quả ấy” hay câu nói “luật nhân quả không chừa một ai chớ nên xem thường” để nhắc nhở con người về cách sống ở đời. Triết lý về luật nhân quả bắt nguồn từ chính quy luật của cuộc sống. Gieo nhân nào thì được quả ấy như trồng dưa được dưa, trồng đậu thì thu hoạch đậu, khi con người làm việc tốt, việc xấu sẽ có báo đáp phù hợp hành động của mình. Nhân quả không phụ thuộc vào ý muốn của con người, có thể thể hiện ngay lập tức hoặc đến một thời điểm nào đó hạt giống sẽ nẩy mầm. Truyện ngắn “Sám hối”của tác giả Nguyễn Hồng cũng bắt nguồn cảm hứng từ quy luật nhân quả. Cuộc đời của nhân vật Thin gặp không ít điều bất hạnh. Bố mẹ bị kẻ xấu giết khi Thin còn nhỏ, Thin mồ côi cha mẹ lớn lên không người nuôi dưỡng, giáo dục. Khi trưởng thành Thin lập gia đình có con gái, con gái. Tưởng rằng cuộc đời Thin dù nghèo khó nhưng cũng yên ấm trôi qua nhưng không ngờ bà vợ mắc bệnh hiểm nghèo. Cảnh nhà khó khăn vật vả, vợ lại ốm đau bệnh tật đã vắt kiệt sức lực, tâm trí của Thin. Đúng lúc này Mân xuất hiện giúp đỡ như một con người tốt bụng. Nhưng đằng sau những hành động tưởng rằng lòng tốt, sự hào sảng của Mân là âm mưu thâm độc. Qua thời gian tiếp xúc với dân làng, Mân đã kích động sự bất mãn, lòng thù hận trong lòng một nhóm người dân nhẹ dạ cả tin. Nghe theo lời Mân, Thin và nhiều người trẻ tuổi trong làng đã tham gia phá hoại ủy ban xã, gây ra cái chết thương tâm cho anh Hải, người cán bộ tốt bụng. Cái chết của anh Hải khiến Thin vô cùng choáng váng. Đến lúc này Thin mới biết mình bị Mân lừa gạt nhưng tay đã nhúng chàm khó thoát. Sau mấy ngày lẩn trốn gặm nhấm nỗi day dưt, Thin quay trở về nhà định chia tay vợ con rồi ra đầu thú. Nhưng người vợ đã tự sát khiến Thin vô cùng đau khổ. Người vợ chết như một sự giải thoát còn Thin phải sống với sự ân hận suốt đời. Ánh mắt của anh Hải trước khi chết hay ánh mắt giận dữ và tuyệt vọng của thằng Pha là điểm nhấn của truyện ngắn mãi ấm ảnh Thin cũng như người đọc, người nghe. Truyện ngắn nói tới quy luật nhân quả cũng là lời cảnh tỉnh con người chớ rơi vào cạm bẫy của kẻ xấu để gây ra những lầm lỗi đáng tiếc.
Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung và trong Tiếng Việt nói riêng. Từ điển Tiếng Việt đã giải thích:”Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói”. Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là "lộng ngữ" và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe".

Điều dễ nhận thấy là các sáng tác trước của Phan Đức Lộc giàu cảm xúc, mang đậm phong vị núi rừng và phần lớn nói về thân phận của người phụ nữ vùng cao. Với truyện ngắn mới này, Phan Đức Lộc bắt đầu với đề tài đồng giới-một đề tài đòi hỏi cách viết khéo léo, tinh tế thể hiện sự đồng cảm của người viết nếu không rất dễ sa vào kiểu viết đơn giản, sống sượng chỉ cốt kích thích trí tò mò của người đọc, người nghe. Qua lời kể của nhân vật kể chuyện xưng Tôi-người con gái, hình ảnh người cha hiện lên thật ấm áp, tình cảm, là chỗ dựa vững chãi của người con. Song sự thực đó chỉ là người cha trên danh nghĩa. Mẹ bỏ hai cha con theo một người đàn ông khác. Cha nuôi nấng Tôi, một mình đóng hai vai, vừa làm cha vừa làm mẹ. Cha chăm chỉ bắt ốc mò cua cào hến nuôi con, một mình đóng cả hai vai kịch Romeo và Juliet. Đứa con gái lớn lên, ra thành phố kiếm sống quăng quật, gặp tai họa nguy hiểm chết người nhưng cũng gặp được tình yêu. Người con trai yêu Tôi chân thành, nồng thắm. Nhưng, chính ở chỗ thắt ngặt này, Tôi nhận ra mình đã yêu em gái của người yêu. May mắn, nhờ tuổi trẻ, sự thấu cảm giới tính thứ ba của xã hội và đặc biệt là lòng nhân ái của người con trai con trai đã giúp Tôi được chuyển giới, được sống là chính mình. Trong khi đó người cha đã không được sống là chính mình, cha đã gồng mình lên, cố sống mạnh mẽ như một người đàn ông thực thụ, dồn nén mọi nỗi đau trong lòng. Truyện trở nên hấp dẫn hơn khi đứa con gái trở về, gặp lại người cha đã già nua hốc hác nhưng vẫn đang sắm cả hai vai Romeo và Juliet, diễn sâu như thể vở bi kịch cổ điển đã trở thành một thế giới nghệ thuật – thành chỗ để sống của riêng người cha. Phan Đức Lộc có khả năng xây dựng cốt truyện để cơi nới nỗi lòng người đọc người nghe, khiến cái bi đát biến hóa thành niềm bùi ngùi cứ lan tỏa mãi ra theo sâu rộng của nỗi lòng ấy.
Tên truyện là Lỗ sẻ, và xuyên suốt câu chuyện là hình ảnh Lỗ sẻ. Lỗ sẻ tượng trưng cho khát vọng của con người. Từ đây sẽ mở ra dòng sông, mở ra cánh đồng, mở ra một chân trời thênh thang ngập nắng-một chân trời hạnh phúc.

Ngược biên niên sử trở về những năm đầu thế kỷ 20, cuộc sống ở làng quê thời xưa cũ, khi con người sống gắn bó với tự nhiên, với nhiều tập tục lâu đời, những nếp sống, nếp nghĩ còn thuần chất. Tác giả đã dày công tạo dựng một không gian bảng lảng nét hoang lạnh cùng với đó là nội tâm phức cảm của con người một thời ranh giới giữa cái thực và cái ảo, giữa truyền thuyết và thực tế chưa minh định. Thuở ấy người ta sống giữa hai bến bở hư – thực, sống tựa vào nhau và truyền cho nhau tâm cảm về quá khứ, vừa sống vừa tìm hiểu, khám phá và tự tiến hóa chính mình. Thuở ấy cũng có những cái ác, cái xấu nhưng rạch ròi hơn và vẫn còn lòng tin gần như tuyệt đối vào quy luật ác giả ác báo. Thế nhưng, dù là thời nào thì vẫn vậy, lòng tốt, mầm thiện vẫn cứ âm thầm được gieo trồng, nảy nở tự trong tâm. Nhân vật Hoàng Văn Giang, người đàn ông sống đơn độc giữa đất trời, cây cỏ đã tìm thấy niềm đồng cảm với cô gái phải mang thân phận người Dơi, phải trả giá cho tội lỗi của mẹ cha. Bao năm tháng đã qua đi, câu chuyện về người Dơi càng thêm kỳ bí, cô gái trong thân phận người Dơi bị gán cho bao tai họa đổ xuống làng Vực. Thế nhưng, khi ngẫm lại, cô gái đáng thương phải sống cuộc đời hoang thú, bị truy sát đến hang cùng thẳm cốc ấy vẫn chưa một lần xuống tay với những kẻ hãm hại cô. Có chăng, tất cả những người kẻ ấy đều đã trút bỏ lòng tham, sự thù hận và sống lương thiện hơn sau khi nhìn thấu bản chất đúng nghĩa con người sâu bên trong thân xác người Dơi với ý nghĩa đọa đày. Càng về cuối truyện, biểu tượng về đôi cánh càng trở nên lấp lánh. Phải! Đôi cánh sẽ giúp con người thỏa mãn khát vọng bay lên, thoát khỏi kiếp sống cô độc nơi cõi nhân gian. Nhưng đôi cánh không tự nhiên mà có, chỉ khi đi đến tận cùng của sự giải thoát, trút bỏ hết những cừu hận, những tham- sân- si, con người mới có thể nhẹ nhõm thoát thân, thanh thản. Khi đó, đôi cánh không còn là cái lốt của loài vật, đôi cánh đã dẫn tâm hồn con người bay tới những khoảng không bay bổng, là cõi sống lý tưởng, nơi tâm hồn hoàn toàn tự do…
Tại Khoa Văn học của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia HN) vừa diễn ra Tọa đàm khoa học quốc tế với chủ đề: “Nguyễn Du và di sản Truyện Kiều nhân 100 năm tranh luận “Truyện Kiều”. Tọa đàm ngược về thời gian năm 1924, khi một sự kiện văn chương quan trọng đã diễn ra ở nước ta, đó là cuộc tranh luận về “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du, giữa học giả Phạm Quỳnh và nhà nho Ngô Đức Kế. Cuộc tranh luận diễn ra sau khi chủ bút Tạp chí Nam Phong Phạm Quỳnh đã có bài diễn thuyết tán dương “Truyện Kiều”: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Tọa đàm khoa học lật lại sự kiện này đã thu hút đông đảo nhà nghiên cứu, nhà phê bình cùng các học giả trong nước và nước ngoài bằng các bài tham luận chuyên sâu về tác phẩm. Phóng viên Dương Hà có những ghi nhận.
Thời kỳ diễn ra chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhiều nhà thơ đương đại ở nước ta từng trực tiếp tham gia chiến đấu trong các binh chủng. Dấu ấn của những năm tháng này in hằn trong nhiều sáng tác tức thời và về sau của họ.

“Sấm rền Độc Tôn Sơn” là truyện ngắn lịch sử kể về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, thời vua Lê chúa Trịnh. Tác giả đã xây dựng nhân vật Nguyệt Tranh với tính cách phức tạp. Ban đầu Nguyệt Tranh tiếp cận Nguyễn Danh Phương để trả thù cho đấng sinh thành. Nàng mất cả cha lẫn mẹ trong loạn lạc giao tranh giữa một bên là đội quân của thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương và một bên là đội quân triều đình. Nàng luôn nghĩ Nguyễn Danh Phương là giặc cỏ, là kẻ đẩy nàng vào bi kịch gia đình. Nàng dùng mỹ nhân kế trở thành người đàn bà của Nguyễn Danh Phương. Nàng giúp Nguyễn Phan, một viên tướng triều đình cũng là người có tình cảm với nàng đưa hai kẻ Phạm Tiền và Đỗ Chung vào làm môn khách ở căn cứ của nghĩa quân. Thực chất hai kẻ này có mối thâm thù với Nguyễn Danh Phương, dùng mọi mưu hèn kế bẩn mục đích phá hoại nghĩa quân từ bên trong. Khi thấy nàng Nguyệt Tranh không nghe theo kế hoạch của chúng giết Nguyễn Danh Phương, Phạm Tiền là thầy phù thủy đã dùng bùa phép che mắt thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương và những người lãnh đạo nghĩa quân khiến cả quân doanh hiểu lầm nàng là cáo tinh hóa thành hủy hoại cơ nghiệp của đại vương. Nàng bị giam lỏng và bị mọi người xa lánh. Tình tiết mang tính liêu trai, kỳ ảo này được tác giả khéo léo lồng ghép trong truyện tạo nên sự hấp dẫn, kịch tính. Cái hay của truyện chính là tác giả đã thành công xây dựng chuyện tình trong truyện. Mối tình tay ba giữa Nguyễn Danh Phương- Nguyệt Tranh- Nguyễn Phan. Nàng thực sự yêu ai. Ai mới là anh hùng, xứng đáng để nàng yêu. Nguyễn Phan là tướng quân triều đình, lập nhiều chiến công hiển hách, là người được chúa Trịnh tin tưởng giao trọng trách tiêu diệt Nguyễn Danh Phương. Còn Nguyễn Danh Phương là anh hùng cái thế hay giặc cỏ. Điều này quyết định đến sự lựa chọn của Nguyệt Tranh. Sau khi trở thành nữ chủ nhân của đại đồn, nàng Nguyệt Tranh đã nhận ra Nguyễn Danh Phương là một người anh hùng áo vải, dám đứng lên chống lại triều đình vua Lê chúa Trịnh mục nát. Nàng muốn gột rửa tội lỗi của mình với nghĩa quân. Trong tình thế đại đồn gặp nguy khốn, nghĩa quân bị dìm trong bể máu, Nguyệt Tranh đã chọn hi sinh bản thân, chặn đường tiến quân của quan binh triều đình để bảo vệ thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương - phu quân của nàng và bảo toàn lực lượng nghĩa quân. Với những tình tiết gay cấn, truyện ngắn lý giải nhiều góc khuất của lịch sử cũng như mở ra những góc nhìn rộng hơn về một giai đoạn lịch sử đau thương của đất nước.

Quý vị và các bạn thân mến, tình làng nghĩa xóm được thể hiện từ những điều đơn giản như lời chào hỏi cởi mở hàng ngày tới việc chia sẻ niềm vui nỗi buồn, giúp đỡ nhau những lúc có công có việc. Với những người chuyển tới nơi ở mới thì môi trường sống xung quanh nhất là hàng xóm, láng giềng rất quan trọng. Khi nhân vật Nga chuyển tới ngôi nhà mới, cô đã rất mừng vì không gian sống sạnh sẽ, con người vui vẻ và có nếp sống văn hóa. Thế nhưng buồn một nỗi gia đình hàng xóm lại quá bất ổn. Đầu tiên là cậu con trai bị bắt vì trộm cắp đồ của công ty rồi vợ chồng hàng xóm thì suốt ngày mắng chửi nhau. Sau một thời gian bà vợ bị mất vì ung thư thì đến ông chồng ngày đêm hát Karaoke làm phiền hàng xóm. Ông biến một thú vui giải trí cá nhân trở thành nỗi phiền toái cho cả cộng đồng. Nhưng khi Nga biết việc ông hát cho vơi nỗi cô đơn, nỗi buồn trong lòng thì cô bỗng thấy thương người hàng xóm xấu số. Sự khó chịu vì tiếng hát của ông trở thành nỗi cảm thông, thấy hiểu. Truyện ngắn viết dung dị về cuộc sống đời thường rất gần gũi với chúng ta. Mỗi cây mỗi quả, mỗi nhà mỗi cảnh. Cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận theo ý muốn của con người. Những sự việc, chi tiết trong câu chuyện người đọc, người nghe đều có thể gặp được trong cộng đồng dân cư thậm chí trong chính gia đình của mình. Chúng ta đồng cảm với những nỗi bất hạnh của người đàn ông hàng xóm và xúc động trước tấm lòng nhân hậu của nhân vật Nga. Khi gặp những việc chưa vừa ý về hàng xóm làng giềng nên đặt mình vào vị trí của họ để từ đó có sự thấy hiểu và chia sẻ. Hàng xóm tối lửa tắt đàn có nhau. Hàng xóm chính là những người hàng ngày sống xung quanh chúng ta, tại sao chúng ta lại không dành cho họ những tình cảm yêu mến, không chia sẻ với họ những lo toan, buồn vui của cuộc sống hàng ngày. Truyện ngắn khai thác đề tài mối quan hệ hàng xóm láng giềng để nói đến tình nghĩa con người.
Người Việt chúng ta vốn coi trọng các giá trị truyền thống bởi thế kho tàng tục ngữ của các tộc người có rất nhiều câu chí lý răn dạy về đạo nghĩa, về ứng xử trong quan hệ gia đình và xã hội.
Những năm gần đây, thơ 1-2-3 nổi lên như một hiện tượng. Đông đảo người sáng tác khắp cả nước đã thực hành lối thơ này và một bộ phận đã có những thành công nhất định. Có thể nói đã từ rất lâu rồi, thi đàn nước ta mới lại chứng kiến một lối thơ có sức lan tỏa như thơ 1-2-3.
Tìm trong kho tàng tục ngữ người Việt chúng ta sẽ thấy được cùng một ý nghĩa, câu chuyện nhưng mỗi dân tộc lại có cách diễn đạt khác nhau tùy thuộc vào cách nói, cách nghĩ, phong tục tập quán. Điều đó đã tạo nên sự phong phú, đa dạng, bản sắc riêng của các tộc người, các vùng miền làm giàu đẹp cho nền văn hóa, văn học dân gian của xứ sở. Tục ngữ các dân tộc đều có nhiều câu khuyên răn con người trong lao động và nếp sống thường ngày.
Nhắc đến Tô Hoài là nhắc đến một gương mặt văn chương nổi bật của thế kỷ 20 với trữ lượng sáng tác đồ sộ, trải suốt nhiều thời kỳ. Các sáng tác của Tô Hoài đa dạng, phong phú, dường như mọi lứa tuổi đều có thể đọc sách của ông. Ông viết truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, bút ký, tự truyện, hồi ký, truyện thiếu nhi, tạp văn…Tô Hoài đã dành nhiều giải thưởng văn học, trong đó tiêu biểu có thể kể đến Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996, Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội năm 2010. Nhân dịp tròn 10 năm ngày ông đi xa, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6), Đài Tiếng nói Việt Nam xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung văn học của ông với tên gọi: Tô Hoài – Nhà văn của mọi người.