Thời kỳ diễn ra chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhiều nhà thơ đương đại ở nước ta từng trực tiếp tham gia chiến đấu trong các binh chủng. Dấu ấn của những năm tháng này in hằn trong nhiều sáng tác tức thời và về sau của họ.

“Sấm rền Độc Tôn Sơn” là truyện ngắn lịch sử kể về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, thời vua Lê chúa Trịnh. Tác giả đã xây dựng nhân vật Nguyệt Tranh với tính cách phức tạp. Ban đầu Nguyệt Tranh tiếp cận Nguyễn Danh Phương để trả thù cho đấng sinh thành. Nàng mất cả cha lẫn mẹ trong loạn lạc giao tranh giữa một bên là đội quân của thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương và một bên là đội quân triều đình. Nàng luôn nghĩ Nguyễn Danh Phương là giặc cỏ, là kẻ đẩy nàng vào bi kịch gia đình. Nàng dùng mỹ nhân kế trở thành người đàn bà của Nguyễn Danh Phương. Nàng giúp Nguyễn Phan, một viên tướng triều đình cũng là người có tình cảm với nàng đưa hai kẻ Phạm Tiền và Đỗ Chung vào làm môn khách ở căn cứ của nghĩa quân. Thực chất hai kẻ này có mối thâm thù với Nguyễn Danh Phương, dùng mọi mưu hèn kế bẩn mục đích phá hoại nghĩa quân từ bên trong. Khi thấy nàng Nguyệt Tranh không nghe theo kế hoạch của chúng giết Nguyễn Danh Phương, Phạm Tiền là thầy phù thủy đã dùng bùa phép che mắt thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương và những người lãnh đạo nghĩa quân khiến cả quân doanh hiểu lầm nàng là cáo tinh hóa thành hủy hoại cơ nghiệp của đại vương. Nàng bị giam lỏng và bị mọi người xa lánh. Tình tiết mang tính liêu trai, kỳ ảo này được tác giả khéo léo lồng ghép trong truyện tạo nên sự hấp dẫn, kịch tính. Cái hay của truyện chính là tác giả đã thành công xây dựng chuyện tình trong truyện. Mối tình tay ba giữa Nguyễn Danh Phương- Nguyệt Tranh- Nguyễn Phan. Nàng thực sự yêu ai. Ai mới là anh hùng, xứng đáng để nàng yêu. Nguyễn Phan là tướng quân triều đình, lập nhiều chiến công hiển hách, là người được chúa Trịnh tin tưởng giao trọng trách tiêu diệt Nguyễn Danh Phương. Còn Nguyễn Danh Phương là anh hùng cái thế hay giặc cỏ. Điều này quyết định đến sự lựa chọn của Nguyệt Tranh. Sau khi trở thành nữ chủ nhân của đại đồn, nàng Nguyệt Tranh đã nhận ra Nguyễn Danh Phương là một người anh hùng áo vải, dám đứng lên chống lại triều đình vua Lê chúa Trịnh mục nát. Nàng muốn gột rửa tội lỗi của mình với nghĩa quân. Trong tình thế đại đồn gặp nguy khốn, nghĩa quân bị dìm trong bể máu, Nguyệt Tranh đã chọn hi sinh bản thân, chặn đường tiến quân của quan binh triều đình để bảo vệ thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương - phu quân của nàng và bảo toàn lực lượng nghĩa quân. Với những tình tiết gay cấn, truyện ngắn lý giải nhiều góc khuất của lịch sử cũng như mở ra những góc nhìn rộng hơn về một giai đoạn lịch sử đau thương của đất nước.

Quý vị và các bạn thân mến, tình làng nghĩa xóm được thể hiện từ những điều đơn giản như lời chào hỏi cởi mở hàng ngày tới việc chia sẻ niềm vui nỗi buồn, giúp đỡ nhau những lúc có công có việc. Với những người chuyển tới nơi ở mới thì môi trường sống xung quanh nhất là hàng xóm, láng giềng rất quan trọng. Khi nhân vật Nga chuyển tới ngôi nhà mới, cô đã rất mừng vì không gian sống sạnh sẽ, con người vui vẻ và có nếp sống văn hóa. Thế nhưng buồn một nỗi gia đình hàng xóm lại quá bất ổn. Đầu tiên là cậu con trai bị bắt vì trộm cắp đồ của công ty rồi vợ chồng hàng xóm thì suốt ngày mắng chửi nhau. Sau một thời gian bà vợ bị mất vì ung thư thì đến ông chồng ngày đêm hát Karaoke làm phiền hàng xóm. Ông biến một thú vui giải trí cá nhân trở thành nỗi phiền toái cho cả cộng đồng. Nhưng khi Nga biết việc ông hát cho vơi nỗi cô đơn, nỗi buồn trong lòng thì cô bỗng thấy thương người hàng xóm xấu số. Sự khó chịu vì tiếng hát của ông trở thành nỗi cảm thông, thấy hiểu. Truyện ngắn viết dung dị về cuộc sống đời thường rất gần gũi với chúng ta. Mỗi cây mỗi quả, mỗi nhà mỗi cảnh. Cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận theo ý muốn của con người. Những sự việc, chi tiết trong câu chuyện người đọc, người nghe đều có thể gặp được trong cộng đồng dân cư thậm chí trong chính gia đình của mình. Chúng ta đồng cảm với những nỗi bất hạnh của người đàn ông hàng xóm và xúc động trước tấm lòng nhân hậu của nhân vật Nga. Khi gặp những việc chưa vừa ý về hàng xóm làng giềng nên đặt mình vào vị trí của họ để từ đó có sự thấy hiểu và chia sẻ. Hàng xóm tối lửa tắt đàn có nhau. Hàng xóm chính là những người hàng ngày sống xung quanh chúng ta, tại sao chúng ta lại không dành cho họ những tình cảm yêu mến, không chia sẻ với họ những lo toan, buồn vui của cuộc sống hàng ngày. Truyện ngắn khai thác đề tài mối quan hệ hàng xóm láng giềng để nói đến tình nghĩa con người.
Người Việt chúng ta vốn coi trọng các giá trị truyền thống bởi thế kho tàng tục ngữ của các tộc người có rất nhiều câu chí lý răn dạy về đạo nghĩa, về ứng xử trong quan hệ gia đình và xã hội.
Những năm gần đây, thơ 1-2-3 nổi lên như một hiện tượng. Đông đảo người sáng tác khắp cả nước đã thực hành lối thơ này và một bộ phận đã có những thành công nhất định. Có thể nói đã từ rất lâu rồi, thi đàn nước ta mới lại chứng kiến một lối thơ có sức lan tỏa như thơ 1-2-3.
Tìm trong kho tàng tục ngữ người Việt chúng ta sẽ thấy được cùng một ý nghĩa, câu chuyện nhưng mỗi dân tộc lại có cách diễn đạt khác nhau tùy thuộc vào cách nói, cách nghĩ, phong tục tập quán. Điều đó đã tạo nên sự phong phú, đa dạng, bản sắc riêng của các tộc người, các vùng miền làm giàu đẹp cho nền văn hóa, văn học dân gian của xứ sở. Tục ngữ các dân tộc đều có nhiều câu khuyên răn con người trong lao động và nếp sống thường ngày.
Nhắc đến Tô Hoài là nhắc đến một gương mặt văn chương nổi bật của thế kỷ 20 với trữ lượng sáng tác đồ sộ, trải suốt nhiều thời kỳ. Các sáng tác của Tô Hoài đa dạng, phong phú, dường như mọi lứa tuổi đều có thể đọc sách của ông. Ông viết truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, bút ký, tự truyện, hồi ký, truyện thiếu nhi, tạp văn…Tô Hoài đã dành nhiều giải thưởng văn học, trong đó tiêu biểu có thể kể đến Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996, Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội năm 2010. Nhân dịp tròn 10 năm ngày ông đi xa, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6), Đài Tiếng nói Việt Nam xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung văn học của ông với tên gọi: Tô Hoài – Nhà văn của mọi người.

Truyện kể về hai nhân vật chính là H’Ril và Y Pher, có số phận khá giống nhau. Cả hai đã cùng bắt đầu cuộc sống lang bạt trên thảo nguyên M’đrăck từ khi mới tròn mười tuổi. H’Ril không có mẹ. Y Pher chẳng có cha. Bố mẹ của hai người bỏ đi khi họ còn nhỏ. Cả hai cũng nước da đen như cột nhà, đôi mắt rực sáng và mái tóc cháy vàng khét nắng. Đôi bạn cùng chung tình yêu với đàn bò, với những tháng ngày lang thang trên đồng cỏ, giữa nắng gió vùng thảo nguyên mênh mông... Cuộc sống êm đềm cứ thế trôi qua, cho đến một ngày Y Pher cứu H’Ril khỏi bị lão già dâm đãng xâm hại. H’Ril thầm yêu trộm nhớ Y Pher. Từ đó cô cười nhiều hơn, vui vẻ hơn, yêu đời hơn. Nhưng cũng như mẹ mình, H’Ril đành bất lực trong cuộc giành giật người đàn ông với thảo nguyên kia. Người đàn ông của mẹ, của Y Pher và rất nhiều chàng trai nơi đây nữa tất thảy đều thuộc về bình nguyên bao la.
Nguyễn Thị Thanh Thuý với truyện ngắn Thênh thang M’đrăck đã trình ra một gương mặt mới ấn tượng với giọng văn tinh tế đầy nhịp điệu, ngôn ngữ giàu hình ảnh. Tác giả bao quát một vùng hiện thực Tây Nguyên vừa dữ dội đa đoan vừa trữ tình thơ mộng, cả đất và người. Nguyễn Thị Thanh Thuý đã thành công trong việc dựng lên một không khí Tây Nguyên sống động, gây ấn tượng mạnh và
mê hoặc người đọc người nghe. Sau nữa là những tầng nghĩa được gợi lên, đan bện, chất chứa những khát vọng về tự do, tình yêu, khát vọng sống, khát vọng bảo vệ thiên nhiên và chung sống chan hòa với thiên nhiên, nguồn cội.

Quý vị và các bạn thân mến, ở đời có nhiều người khi thất bại thì không nhìn nhận sai lầm từ bản thân mình mà thường đổ trách nhiệm cho người khác hoặc nhân tố khách quan. Nhân vật với danh xưng là “tôi” trong truyện ngắn chính là một người như vậy. Được thừa hưởng một cửa hàng từ thời ông cố để lại, nhân vật tôi không biết vì cái gì mà cửa hàng kinh doanh bao nhiều năm đến đời mình làm chủ lại đứng bên bờ phá sản. Không tìm được ra nguyên nhân, ông đành đi xem bói hy vọng dựa vào thế lực siêu nhiên nào đó để cứu giúp sự nghiệp. Nhưng thầy bói phán rất mơ hồ và chung chung khiến ông thật không biết đường nào mà lần. Cuối cùng sau bao ngày suy nghĩ, nhân vật tôi quy tội cho chiếc gương tổ truyền 3 đời trong cửa hàng. Ông cho chiếc gương cổ vào kho, mua 4,5 chiếc gương mới mà vẫn không giữ được khách hàng. Một vị khách bước vào cửa hàng khi ông treo bảng giảm giá 40%. Sau khi chị thử đồ thì không soi gương mà dùng chiếc điện thoại của mình chụp hình. Chị ta rất vừa ý với bức hình trong điện thoại. Vậy là nhân vật tôi đã tìm ra thủ phạm, chính chiếc gương trong cửa hàng đã khiến khách hàng bỏ đi. Ông nghĩ mình đã đặt bao niềm tin hy vọng vào chiếc gương như một cách để bán được hàng nhưng chiếc gương lại phản bội. Ông đập tất cả gương trong cừa hàng rồi đi tìm mua chiếc gương mới. Tới một cửa hàng bán gương nổi tiếng nhất, ông muốn mua một chiếc gương hạnh phúc. Và người chủ bán gương đã trả lời ông một câu rất thâm thúy “ Chúng tôi chỉ sản xuất và bán những chiếc gương soi thấy thật”. Vâng, chân thật chính là một tiêu chí quan trọng trong kinh doanh. Tất cả những quảng cáo, lời hay ý đẹp khác chỉ là phụ trợ chứ điều cốt lõi vẫn là chất lượng của sản phẩm. Nếu sản phẩm của anh không tốt thì cuối cùng khách hàng cũng chỉ mua đồ của anh một lần mà thôi. Truyện ngắn với giọng văn trần thuật có chút hóm hỉnh, chua chát không chỉ nói về việc kinh doanh buôn bán mà còn là bài học về cách sống của con người. Sự chân thật, chân thành chính là yếu tố quan trọng để con người ta gắn bó lâu dài với nhau.
Khi đặt trong tương quan so sánh, ca dao, tục ngữ của người dân tộc Kinh hay còn gọi là người Việt đa số có những nét tương đồng với các dân tộc ít người. Cùng một nội dung, mỗi tộc người lại có cách diễn đạt khác nhau tùy thuộc vào lối nói, lối suy nghĩ và ngôn ngữ riêng. Điều đó đã làm nên sự phong phú, đa dạng trong ý nghĩa của kinh nghiệm dân gian đúc kết qua ca dao, tục ngữ không phân biệt dân tộc, vùng miền.

Ký ức mỗi con người luôn mang trong nó những giá trị thiêng liêng, dẫu bụi thời gian có phủ mờ. An, nhân vật xưng Tôi trong câu chuyện đã kể lại cho chúng ta những kỷ niệm đã diễn ra hơn hai mươi năm về trước, khi anh là một chàng trai trẻ đang chờ kết quả thi đại học. An cùng bố lên mạn ngược, ở trọ trong gia đình một người dân tộc Tày để hàng ngày bố An đi kiếm măng rừng, dây rừng, gỗ rừng. An đã có những kỷ niệm thật đẹp với em Thiềm, con gái thứ hai của ông chủ nhà. Hàng ngày, An không chỉ dạy cô bé học mà còn cùng nhau đi giặt chiếu, trèo cây…Và một dấu ấn sâu đậm nhất là Thiềm tặng An một đồng bạc lấy may kèm câu nhắn: Khi nào anh không còn giữ được nữa, tức là anh đã quên em. Tình cảm giữa Thiềm và An khi đó có thể xem là những rung động thật trong sáng của một thời tuổi trẻ. Thời gian trôi đi, An không gặp lại Thiềm lần nào nữa, cho đến khi con gái của Thiềm đỗ đại học trường An đang dạy và mang đến cho An lá thư của mẹ. Lúc bấy giờ An mới nhớ về đồng bạc năm xưa mà không biết ở đâu rồi. Cuộc sống hiện tại với biết bao lo toan bận rộn, bao ồn ào náo nhiệt xô bồ dễ khiến người ta quên đi nhiều chuyện. An cũng không nằm ngoài vòng quay ấy của cuộc sống. Lá thư của Thiềm gửi đến đã đánh thức vùng kỷ niệm trong trẻo ngày nào. Một cái kết mở của truyện khiến người nghe, người đọc có thể tưởng tượng rằng, An sẽ tìm gặp lại Thiềm trong một ngày không xa. Câu chuyện nhẹ nhàng mà thấm thía của Văn Giá như nhắc nhở mỗi người hãy biết sống trân trọng nhiều hơn với những kỷ niệm, những ân tình của một thời tuổi trẻ đẹp đẽ mà bất cứ ai cũng từng đi qua trong cuộc đời.
Bà Triệu là một trong những nhân vật lịch sử đã đi vào chuyện kể, các áng ca dao, tục ngữ của nước ta. Có những câu đề cập một cách trực diện và cũng có những câu mang hàm nghĩa, đã trở nên thông dụng trong thời hiện đại mà khi truy ra mới rõ ngọn nguồn, gốc tích. Nhà văn, Nhà nghiên cứu văn học Vũ Bình Lục đi vào xuất xứ một câu tục ngữ gắn với nhân vật anh hùng Bà Triệu.
Nhìn vào dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại, trong đội ngũ sáng tác văn học của mọi thời kỳ đều có một bộ phận không nhỏ những người thày cô giáo, những người trực tiếp đứng lớp hoặc từng có những thời kỳ công tác trong ngành giáo dục. Điều thú vị hơn nữa là chính họ lại những có những tác phẩm viết về nghề dạy học, về môi trường giáo dục. Câu chuyện của người trong cuộc vì thế càng thấm đẫm những điều mà người khác không thể có được. Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam năm nay, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6) xin được dành một cuộc trò chuyện với tên gọi: Nhà giáo viết về nghề giáo.

Những trang truyện ngắn “Mùa Xuân của Sú” thiên về trần thuật xung đột đơn tuyến, cho thấy tác giả chưa phải là một cây bút quá sành sỏi về nghệ thuật xây dựng tình huống cốt truyện. Nhưng vì thế sáng tác này lại có được sự mộc mạc, dễ mang lại cho người đọc, người nghe cảm giác về tình người, về sự gắn bó của cô giáo với học trò vùng cao. Đó là câu chuyện của nhân vật Sú, một cô bé lớp Tám bị người bố ép buộc nghỉ học để lấy chồng bên kia biên giới. Cùng quẫn và kiệt sức trong khi trốn chạy, cô bé Sú tưởng đã mất mạng nếu như không có vòng tay cưu mang, cứu giúp của cô giáo và những người bạn học. Thông qua câu chuyện của mình, tác giả đã nêu lên thực trạng cũng là vấn nạn, là hành vi lợi dụng tâm lý người dân vùng cao để lừa đảo mua bán trẻ vị thành niên qua bên kia biên giới. Tương lai của những cô bé ấy sẽ đi về đâu ở xứ người nếu như không có sự chung tay ngăn chặn của xã hội, của lực lượng bộ đội biên phòng. Con đường đến trường của trẻ em vùng cao vẫn còn đó bao nỗi gian nan. Là một cô giáo nhiều năm gắn bó với ngôi trường ở vùng đất biên giới Tây Bắc, có lẽ hơn ai hết tác giả Đào Thanh Tám thấu hiểu những nỗi niềm của con người nơi đây. Những trang viết của chị dù vẫn còn nét nguyên sơ, mô phạm nhưng ít nhiều đã chạm đến không khí hiện thực cuộc sống đã trải nghiệm….