Trong các cây bút thơ nữ xuất hiện từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Tuyết Nga là cái tên sớm gây được ấn tượng đặc biệt với độc giả. Tập thơ đầu tay của chị, Viết trước tuổi mình nhận giải tác phẩm xuất sắc năm 1993 của Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam, tập thơ thứ 2 xuất bản sau đó 9 năm dành giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau tập Ảo giác, Tuyết Nga in tập thơ có tên Hạt dẻ thứ tư năm 2008 và gần đây nhất, tập Mùa giả tưởng (NXB Hội Nhà văn 2024) đánh dấu sự trở lại của chị sau 16 năm vắng bóng. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6) lần này xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Tuyết Nga với tên gọi: Tuyết Nga – Hạt dẻ đi qua mùa đông
Vừa qua Hội Nhà văn Hà Nội đã công bố và tổ chức trao giải thưởng hàng năm cho các tác giả, tác phẩm. Tập thơ “Đêm hoa vàng” của nhà thơ Bình Nguyên Trang là một trong những tác phẩm được chọn lựa để trao giải. Nhân dịp này, BTV chương trình đã có cuộc trò chuyện với nhà thơ Bình Nguyên Trang về tác phẩm đã tạo được dấu ấn cho một khởi đầu mới.

Truyện ngắn được viết theo lối văn hiện đại, trẻ trung, mang những triết lí sâu sắc về cuộc sống và con người. Qua lời kể của nhân vật xưng Tôi-chàng trai trẻ tên Vũ làm nghề bartender (pha chế đồ uống), người đọc người nghe hiểu hơn về những góc khuất của nghề bartender cũng như của khách đến quán bar. Làm việc ở chốn giàu sang, hào nhoáng, ồn ào, Vũ vẫn giữ được bản chất chất lương thiện, trong sáng. Tình cờ anh gặp Hà-một cô gái trông có vẻ hiện đại, sành điệu nhưng bản chất là người chân phương, quê mùa. Một cô gái lấy thế mạnh nhan sắc để kiếm sống, nhưng lại là người khá tinh tế, nhạy cảm. Hai con người luôn cảm thấy cô đơn này đã có sự đồng cảm, chia sẻ, thấu hiểu; từ đó họ dần cảm mến nhau, quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau tốt hơn lên mỗi ngày. Người đọc người nghe mong cho mối tình chị em này sẽ có một cái kết trọn vẹn. Song, cuối cùng Hà quyết định rời xa chốn đô hội, trở về quê để làm lại cuộc đời.
“Ly Caipirinha cuối cùng” với nội dung đời sống đô thị hiện đại, có nhiều chi tiết độc lạ, được cài cắm tạo bất ngờ, nhịp điệu trần thuật nhanh, biến hóa. Kết thúc truyện, chi tiết Vũ phát hiện ông bố của mình tặng Hà chai rượu Thoquino rất bất ngờ. Vũ bàng hoàng, choáng váng, tâm hồn anh vụn vỡ, nhưng cũng tạo dư vị tràn đầy tinh thần nhân bản, đánh thức thiên lương trong lòng người đọc người nghe…

Quý vị và các bạn thân mến, qua lời kể của nhân vật cô gái tên Khanh, người đọc, người nghe cảm nhận được những cung bậc tình cảm của tình yêu đôi lứa. Người mẹ mất khi Khanh 18 tuổi là một bước ngoặt của cuộc đời cô. Cha làm việc ở xa, Khanh phải về quê sống cùng người bác. Ở quê, cô găp người anh họ tên Kha. Trong thời điểm cô đơn không người thân bên cạnh, hình ảnh người anh họ khỏe mạnh, niềm nở, tốt bụng như tia nắng ấm áp tâm hồn ngây thơ của cô gái trẻ. Những công việc làm nông, những câu trò chuyện thường ngày bồi đắp tình cảm của hai người một cách tự nhiên. Sự cố Khanh bị nhóm thanh niên làng cầm đầu là Tuyên sàm sỡ là một điểm nhấn của truyện ngắn. Trong lúc Khanh cảm thấy lo sợ, yếu đuối nhất thì anh Kha xuất hiện như người hùng để cứu cô. Từ lúc này hình ảnh anh đã in đậm trong trái tim của Khanh. Nhưng vì bên cạnh anh Kha luôn có cô người yêu tên Phượng nên Khanh chỉ biết dấu kín những tình cảm trong lòng mình. Khanh được ba đón sang Đức sinh sống, thời gian xa cách khiến tình cảm mới chớm nở trong lòng cô gái trẻ càng bị chôn dấu trong trái tim. Chỉ đến khi Khanh biết được anh Kha lập gia đình mà cô dâu lại không phải chị Phương thì cô mới thấy tiếc nuối. Khanh có lẽ sẽ nghĩ rằng giá mà ngày xưa cô vượt qua được mặc cảm về hoàn cảnh gia đình, vượt qua lời chì chiết của bác gái hoặc hiểu được thân phận thực sự của anh Kha thì … Nhưng duyên phận con người chính là như vậy. Bỏ lỡ chính là có duyên hữu phận với nhau. Truyện ngắn viết về tình yêu đôi lứa không có nhiều biến cố sâu sắc, không có nồng nàn cháy bỏng, chỉ là những vần vươn tơ tình khiến người đọc, người nghe thổn thức không nguôi. Duyên đến, duyên đi đều là tùy duyên, cái gì đã qua thì hãy buông bỏ bình tĩnh đối diện. Từ nơi đất khách quê người, có lẽ điều tốt nhất với Khanh đó là chúc phúc cho vợ chồng anh Kha.
Chơi chữ là một phương thức diễn đạt đặc biệt, song song tồn tại hai lượng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa. Những lối chơi chữ độc đáo trong ca dao đã cho thấy trí tuệ và sự hóm hỉnh, hài hước của cha ông ta. Tiếng cười trong đối đáp, trong những lời ca tiếng hát làm vơi đi những khó nhọc, vất vả trong cuộc sống lao động đời thường

Truyện ngắn chúng ta vừa nghe được viết theo phong cách lịch sử, dựa vào những dữ kiện về cuộc đời Tây Thi, người phụ nữ được phong là một trong Tứ đại mỹ nhân thời cổ điển của Trung Quốc. Tây Thi được vua nước Việt là Câu Tiễn giao cho một sứ mệnh, đó là làm mê hoặc vua nước Ngô là Phù Sai để Câu Tiễn đợi dịp báo thù. Sau đó Câu Tiễn chiến thắng và nước Ngô bị xóa sổ. Thế nhưng phần đời còn lại của Tây Thi mãi là một ẩn số. Nhiều người tin rằng Tây Thi đã chết. Truyện ngắn của Đỗ Trung Lai có thể xem như một giấc mơ đưa ta ngược dòng thời gian về trò chuyện với người xưa. Trong lịch sử nhân loại từ cổ chí kim, khi có chiến tranh, người phụ nữ thường trở thành một nạn nhân, một sự hy sinh bắt buộc. Những nỗi đau đớn xót xa của họ có mấy ai thấu tỏ. Chúng ta có thể liên tưởng đến những câu chuyện trong lịch sử Đại Việt có phần tương tự như câu chuyện về Huyền Trân công chúa hay An Tư công chúa. Nhà thơ Đỗ Trung Lai qua một tác phẩm mang đẫm màu sắc kỳ ảo đã bày tỏ niềm thương xót và đồng cảm với một trang mỹ nhân tuyệt sắc, cũng là tình thương yêu cho bao số phận người phụ nữ trên thế gian này có thể rơi vào cùng cảnh ngộ như Tây Thi. Bài thơ Nghe đàn nguyệt ở Tây Hồ ở phần cuối truyện là kết tinh của cảm xúc, hoàn toàn có thể xem là một tác phẩm độc lập. Đúng như lời nhân vật Tây Thi đã thổ lộ trong truyện, có được sự thấu hiểu và thương cảm ấy, những hận sầu oan ức từ thiên cổ như được cởi tan, đó cũng là tấm tình của người nghệ sĩ dành cho giai nhân tài tử.

Cô gái trong câu chuyện đã hồi tưởng lại một kỷ niệm đáng nhớ thời sinh viên, kỷ niệm gắn với một con người đã giúp cô nhận ra ý nghĩa cuộc sống, giúp cô vượt qua thời khắc yếu lòng, vượt qua những ranh giới tưởng chừng như bản thân với bản tính rụt rè, yếu đuối không thể nào bước tới. Nữ tác giả người Nga dựng nên tình huống cô gái bị kẹt trong thang máy và cũng đồng thời mắc kẹt trong một mối quan hệ mà chính tình cảm của cô bị đem ra trêu đùa. Một tình huống thử thách trong một thời điểm cũng vô cùng đặc biệt, chuyển giao năm cũ và năm mới. Những tưởng chừng ấy điều tệ hại sẽ hủy hoại nốt chút niềm tin, hi vọng le lói trong lòng cô gái trẻ. Thế nhưng, chính người thợ sửa đồng hồ mang quá khứ đạo chích, những câu chuyện về lòng tốt, lòng tự trọng, căn nhà đặc biệt và sự tử tế của ông đã sưởi ấm cô gái với trái tim yếu đuối, thương tổn. Cô đã giũ bỏ hết những tàn dư hoang mang, sống đúng thật là bản thân mình với sự tự tin, can đảm. Người thợ đồng hồ thích những tiếng tích – tắc của đồng hồ giống như nhịp đập trái tim con người. Dù sau này cô không còn gặp lại người thợ sửa đồng hồ ấy nhưng những mảnh ký ức đẹp về ông vẫn như một nguồn sáng diệu kỳ mãi còn dọi suốt hành trình cuộc sống. Vậy đó, có những con người, ta chỉ tình cờ gặp trong đời thế nhưng câu chuyện của họ đã thực sự truyền cảm hứng để ta sống đẹp hơn, giá trị hơn, cho quãng đời về sau, trái tim không ngừng những nhịp ấm nóng, không chút yếu lòng còn vương lại…
Chơi chữ là một đặc điểm độc đáo của ngôn ngữ thơ tiếng Việt. Các hình thức của nghệ thuật chơi chữ trong ca dao rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. Mục đích của các hình thức này là mang tới tính hài hước, trào phúng cho các câu thơ hay lời đối đáp.
Có bao giờ mỗi chúng ta tự hỏi, cuộc sống của loài người sẽ ra sao nếu một ngày không còn ánh sáng. Nhờ ánh sáng mà trái đất mới có sự sống, loài người mới phân biệt được ngày đêm, cây cối mới xanh tươi. Mọi hoạt động phát triển của con người đều không thể thiếu đi ánh sáng. Và thứ ánh sáng kỳ diệu, đẹp đẽ nhất trong cõi nhân gian ấy chính là ánh nắng, thứ ánh sáng tự nhiên chiếu xuống bởi mặt trời. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà ánh nắng đã trở thành cảm hứng cho biết bao tác phẩm văn học nghệ thuật, trong đó có thi ca. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6), Đài Tiếng nói Việt Nam lần này xin dành một cuộc trò chuyện với chủ đề: Nắng trong thi ca Việt
Mới đây Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Gallery 39 đã tổ chức sự kiện ra mắt cuốn sách Di Cảo và trưng bày một số trang thủ bút của nhà thơ, nhạc sĩ Đặng Đình Hưng nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Cuốn sách gồm các tập thơ như “Rra”, “Songe A”, Sử thi “Phù Đổng ca” cùng một số các trang thủ bút các tập thơ của nhà thơ, nhạc sĩ. Lời bạt do nhà thơ Nguyễn Thụy Kha viết. Phần phụ lục gồm Thư của Trần Dần gửi Đặng Đình Hưng, chân dung Đặng Đình Hưng qua ảnh của nhiếp ảnh gia Hà Tường, các bài viết của các tác giả như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phan Đan. Tham dự sự kiện ra mắt cuốn sách “Di Cảo’ và trưng bày một số trang thủ bút của nhà thơ, nhạc sĩ Đặng Đình Hưng, BTV Võ Hà đã có những ghi nhận.

Quý vị và các bạn thân mến, tục ngữ ta từ xưa đã có câu “Gieo nhân nào, gặt quả ấy” hay câu nói “luật nhân quả không chừa một ai chớ nên xem thường” để nhắc nhở con người về cách sống ở đời. Triết lý về luật nhân quả bắt nguồn từ chính quy luật của cuộc sống. Gieo nhân nào thì được quả ấy như trồng dưa được dưa, trồng đậu thì thu hoạch đậu, khi con người làm việc tốt, việc xấu sẽ có báo đáp phù hợp hành động của mình. Nhân quả không phụ thuộc vào ý muốn của con người, có thể thể hiện ngay lập tức hoặc đến một thời điểm nào đó hạt giống sẽ nẩy mầm. Truyện ngắn “Sám hối”của tác giả Nguyễn Hồng cũng bắt nguồn cảm hứng từ quy luật nhân quả. Cuộc đời của nhân vật Thin gặp không ít điều bất hạnh. Bố mẹ bị kẻ xấu giết khi Thin còn nhỏ, Thin mồ côi cha mẹ lớn lên không người nuôi dưỡng, giáo dục. Khi trưởng thành Thin lập gia đình có con gái, con gái. Tưởng rằng cuộc đời Thin dù nghèo khó nhưng cũng yên ấm trôi qua nhưng không ngờ bà vợ mắc bệnh hiểm nghèo. Cảnh nhà khó khăn vật vả, vợ lại ốm đau bệnh tật đã vắt kiệt sức lực, tâm trí của Thin. Đúng lúc này Mân xuất hiện giúp đỡ như một con người tốt bụng. Nhưng đằng sau những hành động tưởng rằng lòng tốt, sự hào sảng của Mân là âm mưu thâm độc. Qua thời gian tiếp xúc với dân làng, Mân đã kích động sự bất mãn, lòng thù hận trong lòng một nhóm người dân nhẹ dạ cả tin. Nghe theo lời Mân, Thin và nhiều người trẻ tuổi trong làng đã tham gia phá hoại ủy ban xã, gây ra cái chết thương tâm cho anh Hải, người cán bộ tốt bụng. Cái chết của anh Hải khiến Thin vô cùng choáng váng. Đến lúc này Thin mới biết mình bị Mân lừa gạt nhưng tay đã nhúng chàm khó thoát. Sau mấy ngày lẩn trốn gặm nhấm nỗi day dưt, Thin quay trở về nhà định chia tay vợ con rồi ra đầu thú. Nhưng người vợ đã tự sát khiến Thin vô cùng đau khổ. Người vợ chết như một sự giải thoát còn Thin phải sống với sự ân hận suốt đời. Ánh mắt của anh Hải trước khi chết hay ánh mắt giận dữ và tuyệt vọng của thằng Pha là điểm nhấn của truyện ngắn mãi ấm ảnh Thin cũng như người đọc, người nghe. Truyện ngắn nói tới quy luật nhân quả cũng là lời cảnh tỉnh con người chớ rơi vào cạm bẫy của kẻ xấu để gây ra những lầm lỗi đáng tiếc.
Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung và trong Tiếng Việt nói riêng. Từ điển Tiếng Việt đã giải thích:”Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói”. Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là "lộng ngữ" và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe".

Điều dễ nhận thấy là các sáng tác trước của Phan Đức Lộc giàu cảm xúc, mang đậm phong vị núi rừng và phần lớn nói về thân phận của người phụ nữ vùng cao. Với truyện ngắn mới này, Phan Đức Lộc bắt đầu với đề tài đồng giới-một đề tài đòi hỏi cách viết khéo léo, tinh tế thể hiện sự đồng cảm của người viết nếu không rất dễ sa vào kiểu viết đơn giản, sống sượng chỉ cốt kích thích trí tò mò của người đọc, người nghe. Qua lời kể của nhân vật kể chuyện xưng Tôi-người con gái, hình ảnh người cha hiện lên thật ấm áp, tình cảm, là chỗ dựa vững chãi của người con. Song sự thực đó chỉ là người cha trên danh nghĩa. Mẹ bỏ hai cha con theo một người đàn ông khác. Cha nuôi nấng Tôi, một mình đóng hai vai, vừa làm cha vừa làm mẹ. Cha chăm chỉ bắt ốc mò cua cào hến nuôi con, một mình đóng cả hai vai kịch Romeo và Juliet. Đứa con gái lớn lên, ra thành phố kiếm sống quăng quật, gặp tai họa nguy hiểm chết người nhưng cũng gặp được tình yêu. Người con trai yêu Tôi chân thành, nồng thắm. Nhưng, chính ở chỗ thắt ngặt này, Tôi nhận ra mình đã yêu em gái của người yêu. May mắn, nhờ tuổi trẻ, sự thấu cảm giới tính thứ ba của xã hội và đặc biệt là lòng nhân ái của người con trai con trai đã giúp Tôi được chuyển giới, được sống là chính mình. Trong khi đó người cha đã không được sống là chính mình, cha đã gồng mình lên, cố sống mạnh mẽ như một người đàn ông thực thụ, dồn nén mọi nỗi đau trong lòng. Truyện trở nên hấp dẫn hơn khi đứa con gái trở về, gặp lại người cha đã già nua hốc hác nhưng vẫn đang sắm cả hai vai Romeo và Juliet, diễn sâu như thể vở bi kịch cổ điển đã trở thành một thế giới nghệ thuật – thành chỗ để sống của riêng người cha. Phan Đức Lộc có khả năng xây dựng cốt truyện để cơi nới nỗi lòng người đọc người nghe, khiến cái bi đát biến hóa thành niềm bùi ngùi cứ lan tỏa mãi ra theo sâu rộng của nỗi lòng ấy.
Tên truyện là Lỗ sẻ, và xuyên suốt câu chuyện là hình ảnh Lỗ sẻ. Lỗ sẻ tượng trưng cho khát vọng của con người. Từ đây sẽ mở ra dòng sông, mở ra cánh đồng, mở ra một chân trời thênh thang ngập nắng-một chân trời hạnh phúc.

Ngược biên niên sử trở về những năm đầu thế kỷ 20, cuộc sống ở làng quê thời xưa cũ, khi con người sống gắn bó với tự nhiên, với nhiều tập tục lâu đời, những nếp sống, nếp nghĩ còn thuần chất. Tác giả đã dày công tạo dựng một không gian bảng lảng nét hoang lạnh cùng với đó là nội tâm phức cảm của con người một thời ranh giới giữa cái thực và cái ảo, giữa truyền thuyết và thực tế chưa minh định. Thuở ấy người ta sống giữa hai bến bở hư – thực, sống tựa vào nhau và truyền cho nhau tâm cảm về quá khứ, vừa sống vừa tìm hiểu, khám phá và tự tiến hóa chính mình. Thuở ấy cũng có những cái ác, cái xấu nhưng rạch ròi hơn và vẫn còn lòng tin gần như tuyệt đối vào quy luật ác giả ác báo. Thế nhưng, dù là thời nào thì vẫn vậy, lòng tốt, mầm thiện vẫn cứ âm thầm được gieo trồng, nảy nở tự trong tâm. Nhân vật Hoàng Văn Giang, người đàn ông sống đơn độc giữa đất trời, cây cỏ đã tìm thấy niềm đồng cảm với cô gái phải mang thân phận người Dơi, phải trả giá cho tội lỗi của mẹ cha. Bao năm tháng đã qua đi, câu chuyện về người Dơi càng thêm kỳ bí, cô gái trong thân phận người Dơi bị gán cho bao tai họa đổ xuống làng Vực. Thế nhưng, khi ngẫm lại, cô gái đáng thương phải sống cuộc đời hoang thú, bị truy sát đến hang cùng thẳm cốc ấy vẫn chưa một lần xuống tay với những kẻ hãm hại cô. Có chăng, tất cả những người kẻ ấy đều đã trút bỏ lòng tham, sự thù hận và sống lương thiện hơn sau khi nhìn thấu bản chất đúng nghĩa con người sâu bên trong thân xác người Dơi với ý nghĩa đọa đày. Càng về cuối truyện, biểu tượng về đôi cánh càng trở nên lấp lánh. Phải! Đôi cánh sẽ giúp con người thỏa mãn khát vọng bay lên, thoát khỏi kiếp sống cô độc nơi cõi nhân gian. Nhưng đôi cánh không tự nhiên mà có, chỉ khi đi đến tận cùng của sự giải thoát, trút bỏ hết những cừu hận, những tham- sân- si, con người mới có thể nhẹ nhõm thoát thân, thanh thản. Khi đó, đôi cánh không còn là cái lốt của loài vật, đôi cánh đã dẫn tâm hồn con người bay tới những khoảng không bay bổng, là cõi sống lý tưởng, nơi tâm hồn hoàn toàn tự do…