Theo các thống kê, “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du sử dụng phổ biến và hiệu quả phép ẩn dụ. Giáo sư văn học Lê Trí Viễn từng nhận định: “Cách nói nhiều hình tượng trong Truyện Kiều là cách nói bằng ẩn dụ, không có trang nào là không thấy một vài ẩn dụ”. Trong bối cảnh lịch sử và tư tưởng thời đại, dễ hiểu khi tác phẩm sử dụng nhiều ẩn dụ từ các câu chuyện, điển tích xuất xứ từ văn hoá Trung Quốc.
Giữa nắng gió dữ dội của miền cát Chakleng, nơi tiếng kèn Saranai và tiếng trống Baranưng ngân vang da diết, có một chuyện tình mục đồng đầy bản sắc đã nảy nở. Truyện ngắn "Chakleng rực nắng" của nhà văn Lê Đức Dương không chỉ là bức tranh sống động về thiên nhiên Nam Trung Bộ, mà còn là hành trình đi tìm tự do và hạnh phúc của đôi bạn Thẩm - Len trước những sóng gió cuộc đời. Mời các bạn cùng lắng nghe và cảm nhận những tầng sâu văn hóa Chăm vừa thực, vừa mơ, đầy mê hoặc.
Cuộc sống vốn vô thường, có những biến cố thương tâm xảy đến trong những cảnh huống mà người trong cuộc không dễ gì chấp nhận. Khi đó mỗi người sẽ có một cách ứng xử khác nhau. Và hơn bao giờ hết, lúc này tình cảm và nghị lực con người được thể hiện một cách sâu sắc nhất. Mời quý vị cùng lắng nghe truyện ngắn “Nước mắt hư vô” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Hà – một câu chuyện sẽ khiến trái tim chúng ta chùng xuống để cảm nhận về sự vĩnh hằng của tình thân giữa cõi đời hư ảo.
Khi khai thác nội dung và thông điệp của Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng tác phẩm mang giá trị nhân đạo lớn lao. Nếu như nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn khái quát: “Nguyễn Du vĩ đại vì cái tình đời, tình người sâu thẳm trong ông”, thì nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú khẳng định: “Thiên tài của Nguyễn Du trước hết là tình thương con người”. Nhà thơ Lưu Trọng Lư lại hình tượng hóa “cái tình vằng vặc như mảnh trăng giữa trời” của Truyện Kiều. Tình thương ấy được trải dài đong đầy xuyên suốt tác phẩm, gắn liền với nhiều cảnh huống và nhân vật khác nhau.

Cuộc vận động sáng tác Ca khúc, Bài Dân ca đặt lời mới và Thơ với chủ đề “Với Đảng vẹn toàn niềm tin yêu” do Ban Văn học – Nghệ thuật (VOV6) và Ban Âm nhạc (VOV3) – Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp phát động đã đi đến hồi kết. Vừa qua, lễ trao giải đã được tổ chức trang trọng và ấm cúng tại Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam (58 Quán Sứ, Hà Nội).
Dù diễn ra trong thời gian không quá dài, cuộc vận động vẫn gặt hái được thành công vang dội cả về số lượng lẫn chất lượng chuyên môn. Trong đó, hơn 2.000 bài thơ gửi về tham dự là một con số vô cùng ấn tượng. Kết quả này không chỉ phản ánh sức lan tỏa mạnh mẽ của chương trình mà còn cho thấy nguồn cảm hứng dồi dào của các tác giả trước những đề tài mang tính thế sự. Cuộc thi đã trở thành nhịp cầu để những người yêu thơ bộc bạch tình yêu đất nước và phản ánh nhịp sống hối hả của đời sống hôm nay. Chung cuộc, ban tổ chức đã trao giải cho 18 tác giả có chùm thơ và bài thơ xuất sắc nhất, bao gồm: 1 giải Nhất, 3 giải Nhì, 4 giải Ba và 10 giải Khuyến khích.
Với lối viết thủ thỉ nhưng sắc sảo, nhà văn Phan Đức Lộc đã "lật xới" những góc khuất trong đời sống dân sinh miền núi để mang đến một truyện ngắn đầy ám ảnh: "Pảng Cò Moong". Tác phẩm là sự đan cài giữa vẻ đẹp thuần khiết của cô gái bản tên Nến, sự thâm độc của kẻ buôn người tên Sến và lòng quả cảm của chàng công an xứ núi – Thòng.
Bằng sự thấu hiểu hơi thở của bà con dân bản, tác giả không chỉ lên án những hủ tục, những mánh khóe tội phạm biên giới mà còn tôn vinh hình tượng người chiến sĩ công an nhân dân kiên cường, bất khuất. Liệu tình yêu và niềm tin có đủ sức gieo mầm xanh trên mảnh đất còn nhiều gian khó? Những nút thắt kịch tính và cái kết đầy hy vọng về một tình yêu nảy nở nơi vùng cao đang chờ đón quý vị trong chương trình đêm nay.
Trong các nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, có một tên tuổi rất đặc biệt. Mới 20 tuổi đã dành giải Nhì cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969. Tuy không trực tiếp vào chiến trường chiến đấu nhưng những câu thơ của ông trở thành hành trang của cả một thế hệ những người lính chống Mỹ. Nhà thơ ấy là Bế Kiến Quốc. Sinh năm 1949 tại Nam Định, ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1970, từng giữ những chức vụ quan trọng như Thư ký tòa soạn tuần báo Văn nghệ, Hội nhà văn VN, Tổng biên tập báo Người Hà Nội cho tới ngày qua đời năm 2002. Với nhiều đóng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại, Bế Kiến Quốc đã được truy tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 10 năm sau ngày ông qua đời. Trong chương trình Đôi bạn văn chương cuối cùng của năm 2025 dương lịch này, chúng tôi xin dành một cuộc trò chuyện về chân dung nhà thơ Bế Kiến Quốc với tên gọi: Bế Kiến Quốc – Còn câu thơ mang gió tới cho đời.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương mà nó để lại đôi khi vẫn cần nhiều hơn một thế hệ để chữa lành. Có những câu chuyện không chỉ được viết bằng ký ức của người sống, mà còn được kể bằng tiếng lòng của những người đã nằm xuống dưới lòng đất mẹ.
Trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya” hôm nay, mời quý vị cùng đến với một góc nhìn đầy bao dung về chiến tranh qua truyện ngắn 'Đất lở' của nhà văn, người lính Mai Tiến Nghị.
Đây là một tác phẩm xúc động về sự hòa giải dân tộc và lòng vị tha của những người lính. Từ sự hy sinh trên chiến trường đến cuộc gặp gỡ định mệnh của thế hệ mai sau, câu chuyện là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình và sức mạnh của tính nhân văn. Mời các bạn cùng đón nghe!

Nhà văn Như Bình được biết đến như một gương mặt thơ đầy cá tính và một họa sĩ được nhiều người yêu mến. Hiện chị là Trưởng ban Chuyên đề báo Công an nhân dân. Không chỉ ghi dấu ấn ở mảng thơ ca và hội họa, nhà văn Như Bình còn để lại những dấu ấn đậm nét về truyện ngắn qua 4 tập tác phẩm đã xuất bản.
Truyện ngắn "Đêm nguyệt thực" của nhà văn Như Bình là tác phẩm từng đoạt giải Nhất báo Văn nghệ trẻ năm 1996 và vừa được in lại trong tuyển tập "Lửa trên sông" (NXB Hội Nhà văn, 2025). Câu chuyện là bản tự sự đau xót nhưng cũng đầy khát khao về hạnh phúc của hai tâm hồn cô độc:
Lão Mốc: Người đàn ông góa vợ, sống lầm lũi trong sự cô đơn. Chị The: Người mẹ đơn thân tật nguyền, mang trên mình vết sẹo tinh thần từ quá khứ nhưng vẫn kiên cường nuôi con và âm thầm nuôi nấng khao khát về một mái ấm.
Giữa những rào cản nghiệt ngã của định kiến và sự ngăn trở từ người thân, liệu ánh sáng hạnh phúc có kịp soi rọi cuộc đời họ, hay sẽ tan biến như một bóng ma trong đêm nguyệt thực? Mời quý vị cùng theo dõi tác phẩm.
Chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm trong các tác phẩm của Đại thi hào Nguyễn Du, đặc biệt là “Truyện Kiều”. Có thể khẳng định “Tình thương” là chữ trọng tâm, là ký hiệu nghệ thuật cơ bản để tác giả soi rọi vào tâm trạng và số phận nhân vật. Ký hiệu chủ của cái “Tình” trong “Truyện Kiều” là chữ “Thương”. Có thể nói Đại thi hào Nguyễn Du đã “xây dựng một môi trường tình thương trong tác phẩm”.
Nhà văn Lộ Dao (sinh năm 1949 – mất năm 1992), tên thật là Vương Vệ Quốc, quê quán Thiểm Bắc (tức Bắc Thiểm Tây), Trung Quốc. Ông là tác giả của trường thiên tiểu thuyết lừng danh, đạt giải Mao Thuẫn năm 1991: Thế giới bình thường.
Truyện ngắn "Ngày vui sướng nhất đời" của ông được kể một cách giản dị, bắt đầu từ chiếc đài cassette, nhưng lại mở ra một chương ký ức sâu kín về những ngày khốn khó. Kỷ niệm đáng nhớ nhất đời mà người cha muốn để lại cho con cháu mình hóa ra lại là một kỷ niệm được phong kín về nước mắt đàn ông. Đây là một câu chuyện lồng trong truyện, ấm áp và chân thật. Mời quý vị cùng lắng nghe để cảm nhận "niềm an ủi và sự ấm áp vô cùng" mà tác giả muốn gửi gắm, qua bản chuyển ngữ của dịch giả Châu Hải Đường.

Trong dòng chảy thi ca hiện nay, những cuộc thi thơ luôn đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa người sáng tác và độc giả, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa hiện tại và quá khứ. Cuộc thi “Thơ ca & Nguồn cội” do những người dân làng Chùa (quê hương của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều- Chủ tịch Hội nhà văn VN) tổ chức không chỉ là một sân chơi nghệ thuật mà còn là nơi bồi đắp tình cảm, khơi dậy trong mỗi người niềm tự hào và gắn bó với quê hương, con người và nguồn cội.
Chỉ trong vòng 4 tháng phát động từ tháng 2 đến hết tháng 5 năm nay cuộc thi “Thơ ca và Nguồn cội” đã nhận được hơn 1500 bài thơ của hơn 500 tác giả ở khắp mọi miền đất nước gửi đến, đặc biệt có nhiều nhà thơ nước ngoài nổi tiếng cũng gửi thơ đến dự thi. Sau những phiên làm việc chuyên nghiệp, khoa học, nghiêm túc và công tâm, các thành viên Ban giám khảo cuộc thi bao gồm Nhà thơ Đinh Thị Như Thuý, Nhà thơ Phạm Đương, Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú, Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và Nhà văn Phạm Lưu Vũ đã chọn được những tác phẩm xứng đáng để trao giải. Ban tổ chức và Ban giám khảo cuộc thi đã công bố kết quả với 40 tác giải được trao giải thưởng. Ba giải Nhất cuộc thi “Thơ ca và Nguồn cội” lần thứ ba được trao cho các nhà thơ Lý Hữu Lương, Trương Xuân Thiên và Trang Thanh, mỗi tác giả một chùm 3 bài thơ. Giải Nhì được trao cho 7 tác giả, mỗi tác giả 2 bài thơ bao gồm Nguyễn Hoàng Anh Thư, Châu Anh Tuấn, Nguyễn Văn Song, Lê Đình Tiến, Vũ Tuyết Nhung, Khương Thị Mến, Bùi Việt Phương. Giải C được trao cho 16 tác giả, mỗi người 1 bài thơ. Giải đặc biệt dành cho 5 tác giả đã mang lại cho thơ ca và cuộc sống vẻ đẹp và một sức mạnh đặc biệt. Giải Cống hiến được trao cho 9 tác giả nước ngoài đã cống hiến cho Thơ ca và Hòa bình trên trái đất.
Có thể nói đối ngẫu cùng điển cố, sóng đôi, ẩn dụ là những biện pháp tu từ tiêu biểu cho phong cách học cổ điển của Đại thi hào Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”, trong đó đối ngẫu đã góp phần làm cho nghệ thuật tự sự sắc nét, hài hoà, giàu nhạc tính, vừa tạo thành chất thơ đậm đà cho tác phẩm, vừa làm nên vẻ đẹp trau chuốt tương xứng cho lời văn. Nếu ẩn dụ, điển cố làm ngôn ngữ Truyện Kiều trở thành ngôn ngữ của biểu tượng, nội tại thì đối ngẫu làm cho tác phẩm thấm nhuần chất nhạc, vừa giàu có chất hoạ hài hoà, vừa nhiều tương phản, tương xứng nhịp nhàng, cân đối, đầy nhịp điệu, một phẩm chất không thể thiếu của mọi ngôn ngữ nghệ thuật đích thực.
Phép đối ngẫu là một thủ pháp nghệ thuật sử dụng sự cân xứng, hài hòa về ngữ âm, từ vựng và ý nghĩa giữa hai vế trong câu thơ, tạo nên sự chặt chẽ và tinh tế trong cách diễn đạt. Đối ngẫu trong “Truyện Kiều” là một hiện tượng đặc biệt, bởi trong truyện Nôm khuyết danh, dân gian không thấy có hình thức tiểu đối. Phép đối ngẫu đã nâng cao chất lượng tự sự, miêu tả nghệ thuật của tác phẩm.