
Từ xưa đến nay những chuyện về tình mẫu tử luôn khiến người ta cảm động. Tình cảm, sự hi sinh mẹ dành cho con trong văn học, trong cuộc sống không bao giờ kể xiết. Câu chuyện về tình mẫu tử trong “Những ngọn gió băng đồng” của Nguyễn Thị Như Hiền lại càng đặc biệt vì nó có những hai người mẹ kép và hoàn cảnh lại rất khác thường. Mẹ là mẹ nhưng đồng thời là bà, chị là chị nhưng cũng chính là mẹ ruột. Một tình cảnh éo le và phức tạp mà có lẽ chỉ có tình mẫu tử mới giúp người ta vượt qua những đắng cay, tủi nhọc. Tình người, sự yêu thương đùm bọc, những đắng cay của số phận đến phút chót mới được tiết lộ hoàn toàn. Người mẹ nhỏ thật đặc biệt và lớn lao, người mẹ lớn lại càng cao cả thầm lặng hi sinh hơn nữa. Câu chuyện gần giống như cổ tích nhưng hoàn toàn có thể trong đời sống thật. Điều ý nghĩa nhất đối với người mẹ, người chị là tình yêu thương, sự hi sinh của của họ mang lại hạnh phúc, yên ổn cho đứa con, đứa em của mình. Niềm vui, cuộc sống bình yên của đứa con là phần thưởng lớn nhất dành cho mẹ, dù mẹ có phải âm thầm, lặng lẽ vượt qua bao nhiêu bão giông như thế nào. Một truyện ngắn đã khiến cho người đọc, người nghe cảm nhận đến dòng cuối cùng mà vẫn rưng rưng, cảm động và ngẫm ngợi (Lời bình của BTV Vân Khánh)

Các bạn thân mến, qua lời kể của nhân vật tôi, chúng ta thấy một ông già cô đơn, nghèo khổ và bệnh thật lặng lẽ vượt qua kiếp sống của mình. Vốn là một gã đồ tể bán thịt lợn nhưng từ khi đứa con trai mất đi, ông già sống mòn mỏi nửa tỉnh nửa mê. Có lẽ chính nghề giết lợn cũng một phần gây nên cái nghiệp cho ông già. Trong hình dáng hung dữ, xù xì kia là một tấm lòng nhân ái của một người cha. Ông hết lòng chăm sóc cho đứa con tật nguyện của mình, giả phụ nữ để ru con ngủ, mong ngóng con được chơi cùng những đứa trẻ khác. Vẻ ngoài cứng rắn nhưng ẩn chứa bên trong gã đồ tể là sự yếu ớt của tâm hồn nhạy cảm. Chính vì vậy khi đứa con mất đi ông đã bị sốc sống lay lắt nửa đời còn lại. Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong truyện khá chi tiết, lựa chọn những điều tiêu biểu, sống động khiến người đọc, người nghe nhớ tới cách miêu tả trong tác phẩm của nhà văn Đoàn Giỏi. Truyện không có nhiều mâu thuẫn, không đi sâu miêu tả tâm lý nhân vật mà chỉ là câu chuyện kể lại một kiếp người nhọc nhằn. Tuy vậy, truyện vẫn mang đến nhiều xúc động cho người đọc, người nghe. Hình ảnh gã đổ tể giả phụ nữ ru con hay chi tiết đứa bé trí tuệ chậm phát triển gọi đầu cho cha mình, tình tiết ông già bị hàm oan bắt trộm gà dễ gợi lên cảm xúc cho chúng ta. Ông già ngoại hình dữ tợn nhưng bản tính thật thà. Ngay cả khi trở nên nửa tỉnh nửa mê thì ông cũng tự đi đào chuột, mò tôm bắt cá hay xin ăn chứ không đi ăn trộm. Cậu con trai đã mất như ngọn lửa giúp ông sống hết cuộc đời. Cuối cùng thì một kiếp nhân sinh cũng đã qua. Đến tận khi ông già mất, người ta cũng không biết ông từ đâu tới, vì sao trên người lại có những vết sẹo to lớn, hai người có thực sự là cha con hay không? Ông già như ánh sáng cô đơn trên bầu trời rớt xuống dòng sông rồi chìm dần vào dòng sông thời gian. Lắng đọng trong lòng người đọc, người nghe là cảm xúc buồn vui của đời người. Để chúng ta trân quý những điều hạnh phúc mà chúng ta đang có. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Trong câu chuyện chúng ta vừa nghe, bắt đầu từ biến cố Vi Tùng Ngân giết Đường Khắc vì quá uất ức và bị cảnh sát truy nã, treo thưởng với số tiền lên tới mười vạn tệ, tác giả dành phần lớn dung lượng của truyện để nói về cuộc trao đổi, trò chuyện giữa hai người bạn: Vi Tùng Ngân và Hoàng Thân Chương. Vi Tùng Ngân thì muốn đền ơn người bạn của mình đã từng cứu anh thoát khỏi tai nạn năm xưa, Hoàng Thân Chương thì một mực thà chết chứ không trình báo bạn với công an để lĩnh tiền thưởng. Cuối cùng, nhờ sự cố tình sắp đặt của Vi Tùng Ngân mà cảnh sát đã tìm đến giải Ngân đi và dứt khoát trao số tiền thưởng cho Chương. Đứng về phía Ngân, khi bị cảnh sát tìm đến và áp giải đi, hẳn trong lòng anh cảm thấy nhẹ nhàng thanh thản vì đã đền ơn được cho người bạn từng giúp đỡ mình. Nhưng Ngân sẽ không thể lường được hành động của Chương sau đó, khi Chương quyết định chia hết số tiền thưởng mười vạn tệ cho tất cả các hộ trong thôn của mình. Thế mới biết, phẩm giá con người không dễ gì đánh đổi được bằng những cám dỗ vật chất, cho dù giá trị vật chất ấy có lớn đến bao nhiêu chăng nữa. Vi Tùng Ngân tự chọn lấy một quyết định giúp cho bản thân được thanh thản thì Hoàng Thân Chương cũng tự chọn lấy một quyết định hợp với lòng mình nhất, tấm lòng đối với bạn của anh trước sau không thay đổi, dù khi anh mạnh khỏe hay tàn phế, dù người bạn của mình đang sống thuận lợi hay gặp cảnh sa cơ. Truyện ngắn Tiền thưởng của Phàm Nhất Bình, vì thế có thể coi là một bản tụng ca tình bạn cũng như phẩm giá cao đẹp, không màng danh lợi của những con người chân chính. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)
Trong những chương trình Tìm trong kho báu vừa qua, chúng tôi đã lần lượt giới thiệu di sản văn chương của Nhất Linh và Khái Hưng, hai cây bút trụ cột trong nhóm Tự lực văn đoàn. Trong chương trình Tìm trong kho báu tuần này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu tới quý vị thính giả di sản văn chương của một thành viên quan trọng nữa trong nhóm Tự lực, đó là nhà văn Thạch Lam. Nhắc tới nhà văn Thạch Lam là nhắc tới những cống hiến quan trọng của ông ở thể loại truyện ngắn. Nhiều truyện ngắn của ông đã và đang được sử dụng trong chương trình ngữ văn trong nhà trường phổ thông và trở thành nổi tiếng suốt bao năm qua. Có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như: Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan...
Có thể nói, Tiêu Sơn tráng sĩ là tác phẩm có vị trí đặc biệt trong các sáng tác của Khái Hưng. Nó không chỉ là tiểu thuyết lịch sử duy nhất mà còn là tác phẩm có dung lượng lớn nhất trong các sáng tác của Khái Hưng. Theo bản in lại của Công ty Nhã Nam và NXB Hội Nhà vào năm ngoái, tác phẩm được ra mắt bạn đọc với khổ sách 14,5 x 20,5 và có độ dày 518 trang, không kể những trang phụ lục bằng hình ảnh.
Nửa chừng xuân là tiểu thuyết nổi tiếng trong nhóm các tác phẩm với đề tài hiện thực xã hội của Khái Hưng. Đứng về mặt niên biểu sáng tác, Nửa chừng xuân được công bố năm 1934, liền ngay sau Hồn bướm mơ tiên. Tác phẩm này thể hiện một cái nhìn mới mẻ, đi trước thời đại của Khái Hưng về vấn đề gia đình và nữ quyền, đấu tranh không khoan nhượng với các hủ tục lạc hậu của xã hội cũ. Đây cũng là tiểu thuyết duy nhất của nhóm Tự lực văn đoàn được chuyển thể thành phim năm 1987 với sự thủ vai của NSUT Phương Thanh trong nhân vật Mai.
Nhìn lại nền văn học nghệ thuật Việt Nam nửa cuối thế kỷ 20, Nguyễn Đình Thi (1924- 2003) là tác giả có đóng góp phong phú ở nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, phê bình văn học, kịch, triết học, âm nhạc. Sự nghiệp sáng tác của ông trải dài từ giai đoạn chống Pháp sang chống Mỹ cũng như sau 1975. Nguyễn Đình Thi có hơn 30 năm giữ chức Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam và từ năm 1995 là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật cho đến khi qua đời. Nguyễn Đình Thi được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt 1 năm 1996. Tên ông được đặt cho một con phố thuộc phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, nằm ngay ven Hồ Tây, Hà Nội. Nhân dịp kỷ niệm tròn 20 năm ngày ông đi xa, chương trình Đôi bạn văn chương xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ ông với tên gọi: Nguyễn Đình Thi – Quê hương và tình yêu

Truyện “Máu rừng” của tác giả Mai Hương viết về hai người bạn: Lênh và Pó. Thân thiết với nhau từ nhỏ nhưng Lênh chọn tiếp tục con đường học hành, còn Pó rẽ ngang, làm lâm tặc. Cả hai cùng thích một người con gái tên Xúa… Số phận, với những ngã rẽ bất ngờ, đẩy họ về hai phía khác xa nhau, thậm chí có lúc dường như đã trở thành hai đối cực đầy mâu thuẫn. Tuy nhiên, ở trong truyện ngắn này, dễ thấy Pó không phải là một nhân vật phản diện. Anh chỉ là một người có suy nghĩ giản đơn, mong có cuộc sống đủ đầy với người mình yêu. Có điều, Pó đã đi sai đường và phải trả giá cho lựa chọn của mình. “Máu rừng” là một truyện ngắn có thể gây ám ảnh cho người đọc khi tác giả không né tránh mà đi sâu vào sự tàn bạo và độc ác của con người. Sự tàn bạo ấy không chỉ thể hiện ở việc tận diệt thiên nhiên mà còn bộc lộ qua cách người đối xử với người. Truyện có nhiều lớp lang. Các chi tiết được đan cài khéo léo và không kém phần dữ dội khiến “Máu rừng” đủ sức găm vào trí nhớ của độc giả. (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)

Lấy chồng với hầu hết người phụ nữ như một canh bạc. Chỉ đến khi kết hôn thậm chí sống một thời gian dài, người phụ nữ mới biết mình có may mắn hay không. Nếu kém may mắn, họ lấy phải người chồng xấu tính, ích kỉ, cờ bạc …thì cuộc sống thật bất hạnh. Ngược lại nếu lấy phải người chồng tốt thì cuộc sống dù khó khăn, vất vả vẫn đầm ấm, hạnh phúc, nhiều niềm vui. Nhân vật người phụ nữ tên Yến Phi trong câu chuyện đáng buồn khi không có cuộc sống hôn nhân, gia đình hạnh phúc. Gia cảnh khá giả, con cái lại trưởng thành không phải lo lắng thì chồng sinh thói bồ bịch. Trớ trêu hơn cô bồ lại là bạn của nhân vật chính. Khi con cái đã trưởng thành đi tìm cuộc sống riêng nơi phương xa, chồng tìm niềm vui mới, Yến Phi với danh xưng là “nàng” cũng phải tự lo cho bản thân mình. Không ghen tuông, không trách móc, không đòi hỏi, nàng trải nghiệm cuộc sống cô đơn của bản thân. Cuộc sống yên bình ở Đà Lạt của Yến Phi bị phá vỡ bởi Út Nghĩa. Hai người gặp gỡ nhau như đưa đẩy của số phận khiến họ xích gần nhau. Út Nghĩa khiến nàng hồi xuân trở lại thời đôi mươi đầy sức sống. Với người phụ nữ đã có chồng, có mấy mặt con thì cái đêm mặn nồng hiếm hoi không phải là tình một đêm. Cô thực sự muốn tìm hạnh phúc cho tương lai của mình. Thế nhưng Út Nghĩa tức Di bị bọn xấu giết chết khi anh truy bắt cướp. Người đàn ông nàng mới yêu mà thực sự chưa kịp tìm hiểu đã ra đi mãi mãi. Kết câu chuyện là việc Yến Phi có thai và nàng hạnh phúc khi cuộc đời mình lại có điều để quan tâm. Được kể với giọng văn hiện đại, lãng mạn, truyện ngắn là lời tâm sự, chia sẻ của người phụ nữ gặp nhiều trắc trở trong tình yêu, hôn nhân. Vượt lên tất cả là thái độ bình thản có chút bất cần của nhân vật Yến Phi. Cuộc sống xã hội nhiều đổi thay, quan niệm của người phụ nữ về hôn nhân, về con cái về hạnh phúc cũng ít nhiều khác biệt so với trước. Người phụ nữ biết coi trọng bản thân hơn, vì cái tôi và hạnh phúc riêng của mình nhiều hơn. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)
"Rỗng làng": Một câu chuyện về quá trình đô thị hóa nông thôn hiện nay. Làng xã đua nhau lên phố. Người người đua nhau xây nhà cao cửa rộng, kín cổng cao tường. Còn đâu những ngôi làng yên ả, thanh bình. Còn đâu đường làng ngõ xóm phong quang…Chứng kiến những mai một ấy ở nhiều làng quê nhà văn Nguyễn Văn Học đã viết nên câu chuyện hiện thực, bằng ngôn ngữ khá uyển chuyển, những câu văn sắc nhưng vẫn rất gợi...
Cùng với thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là một hằng số không thể thiếu trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, trong đó có thi ca. Có một miền không gian vô cùng quen thuộc với người Việt ở mọi vùng miền, từ đồng bằng tới miền núi, từ nông thôn đến thành thị, nhằm phục vụ các nhu cầu trao đổi sản phẩm, mua bán của con người, qua đó giúp cuộc sống con người trở nên đầy đủ thoải mái hơn. Miền không gian ấy có tên là chợ. Chợ cũng đã đi vào bao thi phẩm từ cổ điển cho đến hiện đại, gửi gắm đủ những tâm tư tình cảm của con người. Chương trình Đôi bạn văn chương lần này vì thế xin được dành một cuộc trò chuyện với tên gọi Chợ trong thơ Việt để cùng tìm hiểu loại hình không gian này trong các tác phẩm thi ca.

“Tình yêu có muôn ngàn lối, làm sao để em tìm tới…” là băn khoăn của rất nhiều cô gái. Một mối quan hệ yêu đương, thậm chí hôn nhân, vẫn luôn phải trải qua quá trình lựa chọn đúng – sai mà không ai cũng có đủ dũng khí để làm lại từ đầu. Bởi vậy, người đọc người nghe dễ có sự đồng cảm với Thùy, nữ nhân vật chính khi cảm giác bất an trong lòng cô như vết dầu loang. Xoay quanh một tình huống quen thuộc là lỡ dính bầu, thoạt đầu, độc giả tưởng chừng sẽ khó tìm thấy một điều gì mới mẻ trong “Thuê bao quý khách…” của tác giả La Thị Ánh Hường. Lạ gì chuyện quất ngựa truy phong “ta hèn hóa ác làm em khổ”. Tuy nhiên, chính cách viết hóm hỉnh về một chuyện không biết nên vui hay buồn lại đem đến nhiều trải nghiệm thú vị cho người đọc. Vòng xoáy tâm lí của nhân vật được mở ra: từ hạnh phúc tới hoài nghi, từ bất ngờ đến bàng hoàng, từ hụt hẫng đến nhẹ nhõm... Tâm trạng thấp thỏm của một cô gái chưa chồng mà chửa được khắc họa rất tốt, dù ở trong bối cảnh hiện tại điều này đã phai nhạt đi nhiều. Thùy như một người chênh vênh giữa tin và không tin, giữa hi vọng và thất vọng, để rồi cái kết như một dấu chấm than, khiến cả nhân vật lẫn độc giả phải ngỡ ngàng. (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)

Nói tới bệnh tật của con người thì dân gian nước ta đã có câu “thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng” để thể hiện nỗi khổ, sự khó chịu của những ai bị mắc hai thứ bệnh này. Bất hạnh thay nhân vật chính của câu chuyện lại bị đau răng. Nhưng lạ đời là anh ta đi khám bệnh kiểu gì cũng không phát hiện ra đau ở đâu, vì sao lại đau, uống thuốc kiểu gì cũng không hết. Câu chuyện được kể lại qua góc nhìn của nhân vật tôi, người bạn của kẻ bị đau răng. Qua danh xưng của nhân vật chính là “hắn”, tác giả cũng ẩn ý chút hóm hỉnh và giễu cợt ngay từ đầu câu chuyện. Là một người có ý thức giữ vệ sinh răng miệng, đi khám răng thường xuyên nên “hắn” rất bất ngờ khi bị một cơn đau răng khủng khiếp. Được sự giới thiệu của đồng nghiệp, hắn đi khám một vị bác sĩ kì lạ. Nhưng cơn đau vẫn cứ hành hạ, chợt đến chợt đi không một quy luật, một lý do. Rồi cơn đau biến mất bất ngờ đột ngột cũng như cách nó xuất hiện. Đan xen trong những lời tâm sự về căn bệnh đau răng của “hắn” là hình ảnh của cô bạn gái cùng những cú điện thoại bí ẩn. Đến tận lúc khỏi bệnh “hắn” vẫn không biết nguyên nhân có phải do quan hệ bất chính với vợ của bạn thân hay không. Phải chăng đó là căn bệnh tâm thần, một sự ám thị tâm lý chứ răng “hắn” chả bị làm sao cả. Mối quan hệ ngoài luồng của nhân vật chính với vợ của bạn thân tự nguyện như lửa gần rơm không một ai hay biết nên trong lòng hắn cũng không có mấy ân hận. Thế nhưng phải chăng trong sâu thẳm tâm hồn điều tội lỗi này như một mầm bệnh mà hắn không hề hay biết. Câu chuyện được viết với phong cách hậu hiện đại khi tâm lý nhân vật được miêu tả không rõ ràng, các tình tiết chứa được nhiều bí ẩn như nguyên nhân bệnh đau răng hay là cuộc gọi lúc nửa đêm khiến người đọc, người nghe phải suy đoán. Câu chuyện có kết thúc mở khi đặt ra nhiều tình trạng phát triển tiếp theo. Căn bệnh đau răng của nhân vật thực sự đã biến mất khi chấm dứt mối quan hệ ngoài luồng hay cùng với việc tiết lộ vị bác sĩ tâm thần thì bệnh của hắn sẽ chuyển sang một dạng khác. Tất cả sẽ kích thích trí tưởng tượng sáng tạo của chính người đọc, người nghe.

“Ngàn cánh hạc” có nội dung nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, văn phong giản dị, tình tiết truyện chân thực đã chạm đến cảm xúc, rung động trong trái tim người đọc người nghe. Những nhân vật trong truyện: Phúc-nhân vật kể chuyện xưng “Tôi”, bố mẹ Phúc, Quân-anh trai và Bo-em trai Phúc, cô giáo Quỳnh đều là người tốt. Nhưng có lúc vì chưa hiểu nhau mà họ đã làm tổn thương nhau. Bản chất Phúc là đứa trẻ tình cảm, nhưng tình tính hiếu động thích trêu chọc, nghịch ngợm, có lần Phúc đánh nhau bị rách môi bố đã tức giận đánh cậu một trận thừa sống thiếu chết. Bị nhiều trận đòn khác nữa, Phúc trở nên chai lì, mặc cảm tự ti luôn nghĩ rằng mình là đồ bỏ đi, thế rồi nảy sinh tâm lý tiêu cực, chán nản. Đến trường cậu quậy phá, gây gổ đánh nhau, chán học, cúp tiết, lang thang…Càng như thế Phúc càng trở nên là đứa con hư trong mắt bố, tần suất những trận đòn lại dầy thêm. Còn Phúc thì cho rằng có lẽ bố không yêu thương mình. Hai cha con dần xa cách. Tất cả cũng từ việc họ chưa quan tâm đến nhau, chưa dành thời gian trò chuyện, chia sẻ, chưa thấu hiểu nhau. May thay, chính cô Quỳnh là người để ý đến những hành động, cử chỉ của cậu học trò nghịch ngợm. Cô quan tâm tìm hiểu, giúp đỡ Phúc trong việc học tập cũng như trong cuộc sống, khuyên nhủ điều hay lẽ phải khiến cậu nhận ra là lâu nay mình chưa quan tâm đến bố, đến những người bạn xung quanh. Cô còn lén đóng vai người bạn bí mật âm thầm gửi những lời động viên, phân tích đúng sai cho Phúc. Nghe lời khuyên của người bạn bí mật, Phúc đã quan tâm đến bố mình hơn. Chi tiết cậu mua ba điếu thuốc cho bố giản dị thôi nhưng đã nói lên điều ấy. Một bài học vỡ lòng mà mỗi người lớn cần phải học để biết cách yêu thương, quan tâm, sẻ chia với con trẻ, những tâm hồn non nớt cần được chở che và dìu dắt. “Cuộc sống này nếu không có tình yêu thương và sự trìu mến thì sẽ trở nên vô vị và bế tắc... Đó là cách chúng ta dìu nhau bước đi trong cuộc đời”, đây thực sự là một tuyên ngôn sâu sắc về tình yêu thương giữa con người với con người và thông điệp về bảo vệ và chăm sóc trẻ em mà tác giả Ngô Diệu Hằng muốn gửi gắm tới người đọc người nghe.
Có một truyền thuyết kể rằng nếu ai gấp được một nghìn con hạc giấy thì sẽ có một điều ước và nó sẽ trở thành sự thật. Hạc giấy với số lượng một nghìn con dường như đem đến một tia hy vọng, sự tốt đẹp cho cuộc sống của người gấp ra chúng. Ở truyện ngắn này không chỉ điều ước của Phúc trở thành sự thật mà còn của nhiều người khác nữa: cô Quỳnh, bố Phúc…(Lời bình của BTV Vũ Hà)