Nhà thơ Đồng Đức Bốn cho tới khi qua đời đã xuất bản 6 tập thơ. Nếu như ở tập đầu tay, Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992), thơ Đồng Đức Bốn còn chưa gây được nhiều sự chú ý thì ngay trong tập thơ xuất bản 1 năm sau đó, Chăn trâu đốt lửa (1993), ông đã chinh phục được đông đảo độc giả bằng giọng điệu rất riêng của mình, đồng thời xác lập sở trường của bản thân là thể thơ lục bát. Các tập thơ xuất bản trong những năm sau đó lần lượt là: Trở về với mẹ ta thôi (2000), Cuối cùng vẫn còn dòng sông (2000), Chuông chùa kêu trong mưa (2002) và tập thơ cuối cùng dày hơn nghìn trang như một hợp tuyển tổng kết cả đời thơ của Đồng Đức Bốn: Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006). Năm nay, vừa tròn 15 năm kể từ khi ông qua đời, Đôi bạn văn chương dành một chương trình trò chuyện để tưởng nhớ con người và tác phẩm của ông.

Các bạn thân mến, phải gần gũi với người nông dân chân lấm, tay bùn, đồng hành cùng người nông dân trên mảnh ruộng, vườn cây, ao cá thì tác giả Nguyễn Quang Trung mới viết được truyện ngắn chân thật đến như vậy. Tráng là anh thanh niên khỏe mạnh nhưng học chưa hết lớp 9 nên chỉ biết bán sức lao động của mình kiếm miếng cơm manh áo. Gia đình ít ruộng nên phải đi làm đụng, tức đụng việc gì ai mướn là làm việc đó. Tráng từng lên thành phố làm thuê nhưng không khí đô thị ngột ngạt khiên anh không quen nên lại trở về quê làm việc. Sau mấy năm xuất khẩu lao động ở Đài Loan, Tráng trở lại quê nhà lập nghiệp. Với sự giúp đỡ của cô kỹ sư tên Kim, sau này là vợ của Tráng, anh đã xây dựng một trang trại khang trang. Để có được thành công như vậy có lẽ nhân vật Tráng cũng gặp không ít may mắn. May mắn khi mấy năm xuất khẩu lao động còn dành dụm được tiền tỉ mang về lập nghiệp, may mắn là gặp được cô kĩ sư Kim, người ngoài lạnh trong nóng. Thương anh chàng nông dân chất phác, thật thà, Kim lặn lội từ thành phố về quê để giúp Tráng thành lập trang trại. Trang trại gây dựng thành công cũng là lúc tình duyên của Tráng và Kim đơm hoa kết trái. Nhân vật Tĩnh là người kể câu chuyện đã chứng kiến những đổi thay cuộc đời Tráng và vui mừng cho bạn của mình. Quá trình gây dựng trang trại của nhân vật Tráng được tác giả miêu tả rất kĩ, cẩn thận, giàu hình ảnh. Người nông dân đẹp nhất chính là lúc họ chăm chỉ lao động trên mảnh ruộng, vườn cây của mình. Sức lực, sự chăm chỉ kết hợp với kĩ thuật tốt đã giúp người nông dân làm giàu trên mảnh đất quê hương. Truyện ngắn cũng giúp người đọc, người nghe hiểu hơn nếp sống, phong tục, tập quán, tính cách con người một vùng quê trên đất nước Việt Nam. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Truyện ngắn được viết với giọng văn mộc mạc, chân chất đúng phong vị người nông dân Nam Bộ. Câu chuyện buồn vui nhiều cảm xúc của người phụ nữ tên Sáu Cam gắn bó với mảnh vườn của mình. Mở đầu truyện ngắn là câu hỏi “bán hay không bán”. Câu hỏi trong lòng nhân vật Sáu Cam có lẽ cũng là nỗi băn khoăn của không ít người nông dân trước đổi thay của cuộc sống. Trong hoàn cảnh lao động vất vả chăm bón cả năm mà lại gặp điệp khúc “được mùa mất giá” thì không ít người đã đã bán mảnh vườn cha ông để lại hoặc nhiều năm gây dựng để thay đổi cuộc đời. Nhưng bà Sáu Cam đã không làm như vậy. Dù mọi người đều khuyên nên bán khu vườn đi, làm thuê, làm mướn, buôn bán cho đỡ cực nhưng bà vẫn giữ khu vườn của mình. Trải qua mấy năm cơ cực khi trái cây mất giá thì bà Sáu Cam cũng thu hoạch hoa thơm trái ngọt. Bà Sáu Cam không còn bán hoa quả cho thương lái mà thực hiện mô hình kinh doanh vườn cây ăn trái theo kiểu “bán bụng”. Việc thay đổi phương thức kinh doanh giúp vườn cây của bà mang lại lợi ích kinh thế gấp nhiều lần. Vườn cây của bà trở thành địa điểm dụ lịch, vui chơi nghỉ ngơi của rất đông khách. Ước mơ có một căn nhà mới của bà Sáu Cam đã trở thành hiện thực. Lồng ghép trong câu chuyện giữ đất, giữ vườn của nhân vật bà Sáu Cam, chúng ta thấy cuộc sống của người nông dân Nam Bộ trước tác động kinh tế thị trường. Nhiều người nông dân bán mảnh vườn, mảnh ruộng nhiều năm gắn bó thay đổi nghề, thanh niên cũng không làm ruộng, làm vườn mà làm công nhân trong các khu công nghiệp. Vườn cây ăn trái cũng thay đổi phương thức kinh doanh sao cho hiệu quả. Nhiều đổi thay đã diễn ra nhưng có lẽ tình người, tình đời của những con người chất phác thì luôn được lưu giữ. Tình cảm hàng xóm láng giềng giữa Bà Sáu Cam với ông Tư Bận hay tình cảm mẹ con của nhân vật Sáu Cam tuy được miêu tả giản dị nhưng ấm áp tình thân. Nhân vật tuy chỉ là người nông dân lam lũ nhưng tốt bụng, trọng tình trọng nghĩa thật đáng mến. Truyện ngắn giúp người đọc, người nghe hiểu được phần nào những đổi thay của làng quê Việt Nam thời hội nhập kinh tế thị trường. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Gần đây, cây bút trẻ Kiều Duy Khánh thường sử dụng những yếu tố kỳ ảo trong các sáng tác của mình. Nào là hũ bạc, hạt vía thiêng, hồn piêu hay trái tim sói tuyết và ở truyện ngắn này là gà mái hoa mơ biết gáy. Nhưng cái lạ, cái khác biệt ấy không phải để gây tò mò mà là nguyên cớ để nhà văn xây dựng đường dây câu chuyện, như một thủ pháp tạo dựng không gian nghệ thuật. Bình thường gà mái đẻ trứng, ấp trứng và nuôi con, nhưng đằng này nó lại biết gáy. Nghĩ có điềm chẳng lành, bà Vùa liền tìm đến nhà lão Vạng làm nghề thầy cúng. Tin vào lời thầy cúng vừa háo danh vừa có cái tâm không trong sáng mà bà Vùa đã ngăn cản hạnh phúc riêng của con trai mình. Hình ảnh đàn gà mái hoa mơ chân con nào cũng cụt ngủn mê mải nhặt thóc, thỉnh thoảng lại vươn cổ gáy một tràng téc…te…te…ở phần cuối truyện thật có sức gợi. Lòng tham, sự ích kỷ, thói xấu xa của con người không thể bẻ cong, làm biến dạng, làm mất đi cái đẹp, sự lương thiện…Và chi tiết Thồng-con trai bà Vùa dứt tung cái túi bùa đựng chân gà mái rồi ném xuống đất thật dứt khoát, nó như lời khẳng định anh sẽ mạnh mẽ và quyết tâm gỡ bỏ những quan niệm, hủ tục lạc hậu đã đeo bám và làm khổ sở bao mảnh đời người dân thôn bản bấy lâu. Chính những người trẻ như Thồng, như Máy sẽ quyết định tương lai cuộc đời mình (Lời bình của BTV Vũ Hà)
In Ca Dao We Trust (Tin yêu ở ca dao) là hợp phần quan trọng trong chương trình hoạt động của Trung tâm sản xuất và sáng tạo Ơ Kìa Hà Nội, kết hợp cùng tổ chức Wise (Sáng kiến hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và kinh doanh), nằm trong khuôn khổ dự án Investing in Women của chính phủ Úc, với mong muốn truyền tải và củng cố nhận thức về bất bình đẳng giới trong xã hội, cũng như làm đẹp thêm và phong phú thêm kho tàng ca dao tục ngữ bằng những thông điệp ý nghĩa. Trong chương trình Tìm trong khó báu hôm nay, chúng tôi thực hiện một cuộc trò chuyện mang tên Bất bình đẳng giới trong ca dao tục ngữ người Việt, như một sự ủng hộ cho dự án nhiều ý nghĩa nói trên.

Tác giả Nguyễn Phú đã từng có những chia sẻ về truyện ngắn Hoa pằng nảng rơi rơi của anh. Trong những năm tháng công tác ở vùng cao, gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là những người phụ nữ Mông, những câu chuyện về thân phận, niềm đau và tình yêu của những người phụ nữ Mông đã trở thành một âm hưởng ám gợi, trở đi trở lại trong các sáng tác của Nguyễn Phú. Pằng nảng chính là tên gọi của hoa gạo trong tiếng Mông. Những bông hoa gạo cháy đỏ trong trởi biên tái, rực rỡ rụng rơi ven đường bên bước chân của những người đàn bà Mông như hòa cùng bao nỗi xót xa trong lòng họ. Nhân vật chính trong câu chuyện chúng ta vừa nghe là Dúa, một người con gái bất hạnh trong tình yêu, thậm chí có thể coi là bị phụ bạc. Và nỗi bất hạnh của Dúa giống như một định mệnh, nó được truyển kiếp từ cụ ngoại tới bà ngoại, tới mẹ Dúa và bây giờ là Dúa. Tất cả những người đàn ông đều đã ra đi, bỏ lại những người phụ nữ cô đơn ngóng chờ như hóa đá qua bao năm tháng. Rồi những người phụ nữ ấy vò võ nuốt niềm đau vào lòng, một mình nuôi con…Cái trớ trêu trong mối tình dang dở của Dúa còn hiện lên ở cuối tác phẩm, khi Dúa phát hiện bức ảnh Phừ và Súa - em gái mình, đang ôm nhau trên ghế đá. Nếu em Súa được hạnh phúc, thì những đau khổ của Dúa có lẽ cũng bớt đi phần nào, nhưng không có gi là chắc chắn và tin tưởng tình yêu của một người đàn ông đã vừa phụ bạc Dúa như Phừ. Thân phận những người phụ nữ vùng cao nói chung, phụ nữ Mông nói riêng dường như không thể tự quyết định cho hạnh phúc của mình. Họ vẫn còn bị ràng buộc bởi quá nhiều tập tục, luât lệ như những thói quen truyền thống mỗi ngày đè nặng xuống đôi vai. Họ muốn thoát ra mà chưa thể. Những bông hoa gạo đỏ như máu rơi rơi mở đầu và kết thúc tác phẩm như nỗi xót thương chưa bao giờ dứt, không dễ nguôi ngoai trong lòng người…(Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)
"Thật hiếm hoi và cũng vô cùng quý giá - Nhiều người làm thơ đã sáng tác nên tác phẩm để đời, để nhớ trong những khoảnh khắc vụt hiện. Cảm xúc tượng hình nên những câu thơ ấy gần như khó có thể nắm bắt trở lại. Trong tập thơ “Cỏ cháy” nhà thơ Đỗ Thị Hồng Nhung mới ra mắt bạn đọc, có những bài thơ ra đời bất chợt như thế".
Cuộc thi viết truyện ngắn “Làng Việt thời hội nhập” do Báo Nông thôn Ngày nay, Báo điện tử Dân Việt phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam, Ban Văn học Nghệ thuật – Đài Tiếng nói Việt Nam đồng tổ chức đã đi trọn vẹn một hành trình hai năm. Sau thời gian đãi cát tìm vàng, cuộc thi đã đi đến chung kết với kết quả đáng mừng gồm 16 tác phẩm được xét giải. Phóng viên Vân Khánh tham dự sự kiện có một vài ghi nhận.
Dòng thơ Nôm trung đại nước ta ghi nhận nhiều tên tuổi với di sản thơ ca giá trị. Điểm chung của các nhà nho, các công thần đồng thời là tac gia lớn là tấm lòng với vương triều, với dân tộc. Nhưng cũng không thể không nhắc tới phẩm chất thi nhân, cá tính sáng tạo độc đáo. Vì thế, bên cạnh những áng thơ thể hiện đạo lý, đạo nghĩa, chúng ta còn thấy một hình ảnh khác, phong cách tài tử, sự tự tin vào tài năng và bản lĩnh của các thi nhân. Chương trình hôm nay tổng hợp các góc nhìn tập trung vào xu thế sáng tác ly tâm của các nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.
Vậy là nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, người bạn đồng hành cùng VOV6 trong chương trình Đôi bạn văn chương đã đi xa. Từ tháng 7/2020 đến hết tháng 4/2021, chúng tôi đã cùng nhau thực hiện 23 chương trình trò chuyện với biết bao kỷ niệm buồn vui. Trong chương trình Đôi bạn văn chương lần này, chúng tôi muốn dành một buổi trò chuyện để tưởng nhớ về nhà thơ – chiến sĩ HNC. Không chỉ là một người bạn đàm đạo văn chương, anh còn là một người anh yêu mến, thân tình trong cuộc sống hàng ngày của tôi và biết bao bè bạn. Xin được giới thiệu hai người bạn văn của của nhà thơ HNC sẽ đồng hành cùng tôi trong chương trình hôm nay để cùng chia sẻ những câu chuyện, những kỷ niệm về nhà thơ yêu quý: nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân

Tác phẩm của Đỗ Bích Thúy luôn luôn đề cập những đề tài hết sức gần gũi đời thường, nhưng bao giờ cũng để lại một dư vị lãng mạn, buồn mà không chút cay đắng ở người đọc, người nghe. Với truyện ngắn “Đá cuội đỏ” nhà văn thể hiện nỗi trăn trở về cuộc sống nghèo nàn của những con người trên núi cao. Câu chuyện xoay quanh cuộc sống của anh em nhà Sính, Dìn gắn bó với những tập tục lâu đời của bản làng. Họ thuộc từng con suối, rừng sâu, dòng Phạ Lấu, đỉnh núi Sán Khâu…luôn hiện hữu trong cuộc sống của dân bản. Dưới ngòi bút mượt mà, những trang văn mang đậm vẻ chân thật, hồn nhiên, mộc mạc của tâm hồn con người dân tộc và dịu dàng, man mác chất thơ, một không gian đầy hoa lá rừng, có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác tẩu xuống chợ; những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy mầu sắc; những đêm trăng sóng sánh, huyền ảo; những bụi mần tang mọc trong thung lũng, những ngày chợ phiên sóng sánh say tình…tất cả làm nên bức tranh thật nên thơ. Tuy vậy, điều đọng lại sau cùng chính là nỗi buồn thương về kiếp người nơi đây, họ không thoát khỏi cái nghèo khó truyền từ đời này sang kiếp khác, và những ước mơ đổi thay là điều thật xa vời. Khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng đất độc đáo, đầy kỉ niệm đã tạo ra trong ngòi bút của Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dào dạt trên trang viết…(Lời bình của BTV Vân Khánh)

Bí mật các nữ tu cất giấu trong ngôi Thánh đường, nơi cư ngụ của một Cô nhi viện từ miền Trung di tản vào vùng ven Sài Gòn thực sự khiến người đọc, người nghe ngỡ ngàng. Bởi điều đó ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Nhưng cũng nhờ cái kết bất ngờ ấy, truyện ngắn “Ngày cuối cùng của chiến tranh” của nhà văn Vũ Cao Phan đã đọng lại dư vị nhói lòng, ám ảnh. Với logic thường tình, chúng ta đã tưởng rằng trong căn nhà nguyện khả nghi lúc nào cũng đóng cửa kia đang dung dưỡng những kẻ ẩn náu – Và cũng như những người lính giải phóng, người đọc, người nghe hồi hộp dõi theo kết cục phía bên kia, những tàn quân buông súng đầu hàng Cách mạng. Ngòi bút nhà văn Vũ Cao Phan thật sự cao tay khi không để lộ chút sơ hở nào hòng đánh lạc hướng độc giả dự đoán về kết cục kia. Và ông đã thành công trong việc bình tĩnh dẫn dụ cho diễn biến câu chuyện đến chỗ cần thiết – Cuối cùng từ từ ánh sáng tình người đầy xúc động hắt ra từ uẩn khúc của cuộc chiến. Cuộc tiếp quản của một đơn vị quân giải phóng trong ngày 30 tháng 4 năm ấy đã mở ra một cảnh tượng khiến người kể chuyện, người chỉ huy dày dặn rơi nước mắt. Và những giọt nước mắt, câu chuyện đong đầy tình người ấy như một soi chiếu giá trị sâu sắc về góc khuất của cuộc chiến mà tới tận ngày hôm nay, nhân loại, chúng ta hãy còn nhắc nhớ (Lời bình của BTV Võ Hà)
Các phong tục truyền thống lâu đời là biểu hiện rõ nét trong sinh hoạt văn hóa của người dân đồng bằng Bắc bộ, cụ thể hơn là vùng đồng chiêm trũng Bình Lục (Hà Nam), quê hương của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Với tình yêu sâu sắc dành cho quê hương làng cảnh, hầu hết các áng thơ Quốc âm của cụ Tam Nguyên Yên Đổ đều thấp thoáng đường nét, bối cảnh là các phong tục, tập quán nơi ông cư ngụ và gắn bó.
Tháng Tư có lẽ là tháng đặc biệt nhất trong năm bởi nó mang trong mình cả bốn mùa. Vừa là cuối xuân, vừa là đầu hạ như trong lời ca của Dương Thụ, vừa có chút rét nàng Bân như mùa đông còn sót lại. Và khi đã có sự góp mặt của xuân, hạ, đông thì những thời khắc man mác, dìu dịu của mùa thu tất sẽ xuất hiện khi những cơn mưa lá bất ngờ đổ xuống trên mỗi con đường chúng ta qua. Và trên tất cả, tháng Tư có ngày 30/4 lịch sử-Ngày thống nhất non sông