Đêm vỡ núi: Lời cảnh báo của mẹ thiên nhiên21/12/2020

Những trận mưa lũ càn quét mấy tỉnh miền Trung hồi tháng 10 vừa qua vẫn là nỗi ám ảnh day dứt không nguôi với nhiều người, nhất là với những ai trong cuộc đời đã từng trực tiếp chứng kiến. Nỗi ám ảnh gợi nhớ ký ức, kỷ niệm về những trận mưa lũ khủng khiếp đi qua trong đời. Thế hệ này kế tiếp thế hệ sau, năm này nối tiếp năm sau. Đến hẹn mưa lũ lại về, lâu lâu lại có những trận lũ thảm họa, kinh hoàng. Nhân vật tôi – người kể chuyện là một nhà báo đã tái hiện lại trận lũ xảy ra cách nay đã 20 năm tại xã Dú Tiên. Như bao trận lũ khác sự giống nhau ở tính chất bất ngờ, đầy tai ương và sức tàn phá, hậu quả để lại khốc liệt. Truyện ngắn “Đêm vỡ núi” của nhà văn Nguyễn Trần Bé mang đậm chất ký sự vì cách kể chuyện đậm chất báo chí, lối hành văn mang tính trần thuật một cách kỹ càng trung thực, đậm tính thời sự và hướng đến cả vấn đề nóng, mới của ngày hôm nay. Đó là lũ lụt ngày càng là mối đe dọa là thảm họa thường trực của con người. Sau hai mươi năm, thiên tai này không hề suy giảm mà có phần tăng, mức độ trầm trọng hơn. Nguyên nhân sâu xa đưa đến tình trạng lũ quét sạt lở đất cũng được nhà văn, thông qua nhân vật khéo léo lý giải. Đó là do nạn phá rừng và xây dựng thủy điện một cách tùy tiện. Nhân vật Tài Học, Tài Vinh đã nhìn ra và khắc phục bằng cách trồng rừng, và ngăn chặn việc xây dựng thủy điện. Nhân vật của truyện được tác giả xây dựng như một chân dung báo chí, điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất. Tuy nhiên có lẽ nhà văn chưa đi đến tận cùng của sự lý giải nguyên nhân. Sự phá rừng ở đây là rừng nguyên sinh. Mà cho dù chúng ta có trồng cây gây rừng thì đến hàng trăm năm, may ra mới có được thứ rừng nguyên sinh đã tàn phá vì rừng nguyên sinh là thứ rừng nhiều tầng, nhiều thảm thực vật cùng sinh sống, thứ cây cổ thụ bám rễ sâu mới giữ được đất chứ không phải thứ cây trồng mươi năm lại khai thác. Nếu chúng ta cứ tiếp tục phá rừng nguyên sinh rồi yên tâm là vẫn duy trì phong trào “trồng cây gây rừng” để bù vào thì có lẽ người dân sẽ vẫn mãi mãi chịu cảnh lũ lụt lũ quét mà thôi. Giá như nhà văn đi sâu tận cùng sự lý giải điều này thì có lẽ truyện sẽ sâu và có sức truyền cảm nhiều hơn. (Lời bình của BTV Lê Tuyết Mai)

Đêm lũ mưa: Cuộc sống người dân vùng lũ

Đêm lũ mưa: Cuộc sống người dân vùng lũ 18/12/2020

Truyện ngắn “Đêm lũ mưa” được nhà văn Sương Nguyệt Minh viết sống động như một trang phóng sự với nhiều hình ảnh, sự kiện khi nhân vật tôi là nhà báo, nhà văn đi cứu trợ người dân vùng lũ. Nhưng không vì thế mà câu chuyện thiếu đi những yếu tố nghệ thuật. Tác giả đã chú trọng xây dựng các tình tiết câu chuyện, sự kiện và nhân vật đáng nhớ. Là người đi cứu hộ dân bị lũ tại Tà Rông nhưng nhân vật tôi gặp tình huống khó xử khi bị bắt làm con tin. Trong cơn cùng quẫn không lối thoát khi bị kẹt lại trên đồi Mâm Xôi thì người dân bám vào ý nghĩ giữ anh lại thì trực thăng cứu hộ chắc chắn sẽ quay lại. Khi đồi Mâm Xôi bị xói mòn từng giờ, từng phút là lúc nào cũng có thể biến mất trong biển nước thì nhân vật trở thành chiếc phao cứu sinh để người ta hi vọng sống sốt. Trong đêm mưa lũ đó, nhân vật được chứng kiến những mặt sáng tối của con người. Trong khi già làng, bà Sơ cùng người đàn bà câm cưu mang nhau qua hoạn nạn thì gã thợ sơn tràng lúc nào cũng chỉ nghĩ tới bản thân. Câu chuyện được kể đan xen những tình tiết và cảm xúc. Từ chỗ tức giận khi bỗng bị người dân bắt làm con tin, nhân vật thương cảm cho tình cảnh của họ, anh sợ hãi khi bị gã sơn tràng gây nguy hiểm, anh liều mình cứu người thoát nạn… Chỉ một đêm thôi mà nhân vật đã trải qua biết bao cảm xúc thăng trầm. Vậy thì những con người bị kẹt lại hàng tuần, hàng tháng trong vùng lũ sẽ trải qua những biến động to lớn như thế nào trước mất mát và đói rét. Đó cũng là điều khiến người đọc, người nghe phải suy ngẫm. Có những chi tiết xúc động như việc người đàn bà câm cửi chiếc áo phao duy nhất vứt xuống nước lũ để cứu gã đàn ông đã bỏ mọi người chạy trốn một mình. Câu chuyện có cái kết ấm lòng khi gã sơn tràng lấy người phụ nữ câm làm vợ. Truyện ngắn giàu hình ảnh, sự kiện, chị tiết sinh động giúp người đọc, người nghe hiểu được phần nào cuộc sống của những người dân đã và đang chịu thiên tai lũ lụt...(Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

"Truyện Kiều" ở Nhật Bản 17/12/2020

Nhật Bản vốn là một đất nước có nền văn hóa lâu đời cũng như những di sản văn học tầm cỡ, thế nhưng khi tiếp xúc với văn bản tác phẩm “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du của nước ta, từ giới trí thức đến người bình dân xứ mặt trời mọc các thời kỳ đều ngạc nhiên và ấn tượng. Đó là khởi nguồn để ra đời những bản dịch tác phẩm “Truyện Kiều” sang tiếng Nhật Bản. Những trao đổi giữa BTV chương trình với PSG.TS Đoàn Lê Giang ngay sau đây khẳng định vị thế của kiệt tác văn học nước ta không chỉ gói gọn trong vùng lãnh thổ...

Trái tim người lính

Trái tim người lính 17/12/2020

Mỗi năm cứ đến ngày 22/12, ngày quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta lại dành tình cảm hướng về những chiến sĩ, những người lính miệt mài ngày đêm không nghỉ, đang hy sinh hạnh phúc cá nhân để sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hình ảnh người lính, hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ đã đi vào biết bao tác phẩm thơ nhạc đặc sắc, làm nên những ấn tượng khó phai trong lòng mỗi người đọc, người nghe. Với ý nghĩa đó chương trình Đôi bạn văn chương phát 16/12 sẽ có chủ đề “Trái tim người lính”...

Nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ:

Nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ: "Nhiều khi người ta sống chết, hi sinh vì một nếp nhà rất bình dị" 16/12/2020

Nói đến nhà thơ, nhà viết kịch, PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, nhiều người biết ông là tác giả của những vở kịch nổi tiếng như “Chuyện tình Khau Vai”, “Mai Hắc Đế”, “Hừng đông”, “Thầy Ba Đợi”, “Ngàn năm mây trắng”…. và hai tập thơ “Về lại triền sông” và “Nhớ thương ở lại”. Ngoài ra, ông còn gánh trên vai nhiều trọng trách với tư cách là một vị lãnh đạo, là Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương. Mặc dù bận rộn với công việc, ông vẫn luôn dành thời gian cho văn chương. Gần đây, ông còn xuất hiện với một vai trò mới – một tiểu thuyết gia với “Chuyện tình Khau Vai” (ra mắt vào năm ngoái) và mới nhất là tiểu thuyết “Hừng đông”, do NXB Văn học ấn hành. Để hiểu thêm về cuốn sách này, chúng ta cùng nghe cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Thế Kỷ với phóng viên chương trình.

Những mùa đông yêu dấu

Những mùa đông yêu dấu 16/12/2020

Từ bao đời, thời gian nói chung và bốn mùa nói riêng đã là nguồn cảm hứng cho bao thi sĩ, đã đi vào biết bao tác phẩm thi ca như một chứng nhân không thể thiếu cho những tâm sự, những câu chuyện, những nỗi lòng. Xét trong thi ca Việt từ cổ điển cho đến hiện đại, mùa thu và mùa xuân được đi vào thơ dễ dàng hơn mùa đông và mùa hè, có lẽ một phần lớn bởi cảm giác dễ chịu mà thời tiết mang lại. Mùa đông và mùa hè xem ra có phần khắc nghiệt hơn bởi mùa hè thì quá nóng còn mùa đông lại quá lạnh, thế nhưng điều đó vẫn không cản trở việc hai mùa này đi vào những tác phẩm thi ca. Trước ngưỡng cửa của mùa đông năm nay, chúng tôi muốn gửi tới các quý thính giả một chương trình trò chuyện thơ ca mang tên "Những mùa đông yêu dấu" với hy vọng mùa đông dù rằng lạnh lùng nhưng những bài thơ, câu thơ mùa đông lại có khi giúp sưởi ấm lòng người...

NSND Trần Thị Tuyết: Bản sắc một giọng ngâm

NSND Trần Thị Tuyết: Bản sắc một giọng ngâm 14/12/2020

Tưởng nhớ NSND Trần Thị Tuyết, người gắn bó với làn sóng Văn học Nghệ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam, chương trình tuần này dành một phần thời lượng ôn lại những dư âm của một giọng ngâm thơ được nhiều thế hệ công chúng, thính giả mến mộ. Chúng ta có thể cảm nhận được niềm yêu mến, trân trọng trong niềm thương nỗi nhớ với một trong những giọng ngâm làm nên bản sắc “Tiếng thơ” của Ban Văn học - Nghệ thuật – Đài Tiếng nói Việt Nam.

Tiếng chuông đền Diềm: Thỉnh gọi những tấm lòng biết giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống

Tiếng chuông đền Diềm: Thỉnh gọi những tấm lòng biết giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống 11/12/2020

Có một thực tế là những người trông coi nhà Thánh thường khiếm khuyết về thể chất, hoặc là ngoại hình xấu xí hoặc là thiếu khuyết một vài giác quan như nghe, nói, nhìn… có thể khi thiếu khuyết con người ta cần đến chốn thần linh để nương nhờ, tựa bám mà sinh tồn cũng có thể vì thiếu khuyết mà người ta được bù trừ những khả năng khác biệt. Cô Trinh trong truyện ngắn “Tiếng chuông đền Diềm” thiếu khuyết cả nhan sắc, ánh nhìn, giọng nói, nhưng bù lại, cô có niềm tin và sự tôn thờ tột bậc với Đức Ông và người dân làng Diềm. Với cô, việc phụng sự Đức Ông, giúp Đức Ông vỗ về che chở sự bình yên cho người dân làng Diềm là bổn phận, là thiên mệnh, là tất cả ý nghĩa đời sống của cô trên trần gian. Bởi vậy mà cô dành tất cả tình yêu thương trong sáng và trái tim tận hiến để chăm chút ngôi đền, giữ gìn bài thuốc quý gia truyền để chữa bệnh về thể chất cho dân làng Diềm, nâng niu an ủi những tâm hồn người bấy bớt giúp họ vượt qua ngang trái đời thường. Cũng bởi trái tim tinh nhạy ấy mà cô Trinh nhìn được rõ nét một vài khoảnh khắc đặc biệt của con người, khi họ tột cùng đau khổ, tột cùng trong sáng, tột cùng yêu thương. Cũng bởi trái tim thánh thiện chỉ biết yêu thương tận hiến, chỉ biết cho mà chưa bao giờ được nhận, nên Trinh không nhìn được những lừa lọc dối trá những cám dỗ ma mị của dục vọng để rồi bị cuốn vào vòng xoáy của tiếng sét ái tình. Biết mình đang bị cuốn trong dòng nước xiết của những đòi hỏi bản năng đàn bà, Trinh một lần nữa lại dựa vào Đức Ông, dựa vào trời đất núi sông và người dân làng Diềm mà vượt thoát. Trong cuộc vượt thoát ấy, Trinh nhận ra cả phần xác và phần hồn của làng Diềm cũng cần được cứu rỗi. Cô thỉnh tiếng chuông kêu cứu. Tiếng chuông đền Diềm chỉ vang lên khi làng có việc trọng. Nhưng từ khi đỉnh núi Móc có ngôi chùa lớn, tiếng chuông trên đỉnh núi vang lên hàng ngày để các đoàn khách hành hương gửi lời thỉnh cầu đến cao xanh. Tiếng chuông kêu càng nhiều, chứng tỏ khách càng đông, người làng Diềm càng có cơ hội làm giàu. Bởi vậy không còn mấy người trong làng phân biệt được tiếng chuông đền Diềm và tiếng chuông trên đỉnh núi Móc nữa. Giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc là một trong những bộ gen quan trọng làm nên hình ảnh riêng biệt của quốc gia, dân tộc trong thời đại thế giới phẳng. Song trong điều kiện mở cửa, hội nhập và phát triển hiện nay, đặc biệt, dưới tác động nhiều chiều của nền kinh tế thị trường, việc gìn giữ, phát huy giá trị văn hoá truyền thống không dễ dàng gì. Truyện ngắn “Tiếng chuông đền Diềm” là sự trăn trở về những được - mất trong quá trình vươn lên làm giàu bằng du lịch tâm linh ở một làng quê nghèo, cũng là tiếng chuông thỉnh gọi những tấm lòng biết hiểu, biết yêu, biết giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong thế giới đa diện hôm nay...(Lời bình của BTV Vân Khánh)

Thợ cả: Tình yêu trong công việc

Thợ cả: Tình yêu trong công việc 9/12/2020

Nhà văn xứ Thanh Lê Ngọc Minh-Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, ngoài sáng tác kịch bản phim, anh còn viết tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký và lý luận phê bình. Lê Ngọc Minh được đánh giá là cây bút với những truyện ngắn mang hơi thở dồn dập của đời sống hiện đại. Tuy vậy, những truyện ngắn để lại dấu ấn trong lòng người đọc người nghe hơn cả là những truyện anh viết về quá khứ, về kỷ niệm thuở học trò, về thầy giáo, bạn học cũ…những câu chuyện đó giản dị nhưng giàu tính nhân văn. Chương trình Đọc truyện đêm khuya hôm nay xin được giới thiệu với các bạn một sáng tác như thế của nhà văn Lê Ngọc Minh. Đó là truyện ngắn "Thợ cả"

Bản

Bản "Truyện Kiều" tiếng Rumani 9/12/2020

Từ những năm nhân dân ta kháng chiến chống Mỹ cứu nước, “Truyện Kiều” đã được dịch sang tiếng Rumani. Căn cứ chủ yếu trên bản dịch tiếng Pháp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, dịch giả Radu Moureanu (Ra- đu Mô – rê – a – nu) đã đặt tâm huyết vào việc chuyển ngữ kiệt tác văn học của nước ta. Bản dịch do Nhà xuất bản văn học thế giới của Rumani ấn hành được xem là một động thái thể hiện tình hữu nghị, nhưng cũng rất kỳ công, thể hiện trình độ, cảm thụ của dịch giả. Trao đổi giữa BTV Võ Hà và PGS.TS Nguyễn Văn Dân lật lại bối cảnh lịch sử và hình thức thể hiện của bản dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Rumani...

Gót đỏ chân son: Chân dung phố thị qua mắt của người quê

Gót đỏ chân son: Chân dung phố thị qua mắt của người quê 8/12/2020

Ngay từ nhan đề “Gót đỏ chân son”, nhà văn Trần Chiến đã thu hút sự chú ý của độc giả, trước hết là bởi sự ấn tượng của hình ảnh, sau là vì nó gợi nhớ những câu ca: “Còn cha gót đỏ như son – Đến khi cha thác gót con đen sì – Còn cha nhiều kẻ yêu vì – Đến khi cha thác ai thì thương con”. Viết về Sơn – một cậu bé mồ côi cha, nhà văn Trần Chiến không chọn một cách kể khiến người ta phải sụt sùi thương xót ngay từ đầu, mà lại chọn giọng kể tưng tửng từ ngôi thứ nhất. Sơn có thân phận như bao đứa trẻ khác lớn lên từ làng, bỏ học, rồi nhanh chóng nhập vào đội quân lên thành phố làm thuê. Năm năm tháng tháng, mơ ước đổi đời nơi phố thị vẫn còn, nhưng cũng đã lấm lem những cay đắng thị thành… Qua con mắt của một đứa trẻ, hành trình đi từ xóm “liều”, khu trọ “đen”… rồi “khách sạn” Xa mẹ được Sơn kể lại một cách hồn nhiên. Câu chuyện cuộc đời của nhiều người khác cũng thấp thoáng trong hành trình ấy. Có chú Hệ bị quỵt tiền đi xuất khẩu lao động, chuyện các bà ô-sin, dân lao động tụ tập nói đủ thứ chuyện không hiểu nổi về thành phố… “Gót đỏ chân son” trước hết là câu chuyện về thân phận của một người quê lưu lạc phố phường; sau có thể coi là chân dung phố thị qua mắt của người ở quê ra – một bức chân dung mà nét hào hoa đã dần nhường chỗ cho những góc còn khuất lấp, rằng phố thị hoa lệ nhưng là hoa cho người giàu còn lệ cho người nghèo. “Gót đỏ chân son” kết lại trong những suy nghĩ vẩn vơ của Sơn. Còn quê đấy, nhưng về quê thì làm gì? Chừng nào câu chuyện việc làm ở làng quê vẫn còn là một câu hỏi, thì chừng ấy chúng ta vẫn còn những người như Sơn, như chú Hệ, vất vưởng mưu sinh nơi phố thị, biết bao giờ mới được “gót đỏ chân son”? (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)

Khánh bạc leng keng: Vọng âm từ chốn sơn lâm

Khánh bạc leng keng: Vọng âm từ chốn sơn lâm 4/12/2020

Nếu chỉ một lần tới ngó nhìn những cánh rừng già mải miết dọc dài sông Giăng, viết làm sao nổi câu chuyện không dứt, không nguôi ngoai hồng hoang, huyền hoặc. Tác giả Hữu Vi chia sẻ rằng đúng là “Khánh bạc leng keng” mượn khung cảnh quê hương của anh, miền núi xứ Nghệ nơi người ta đã và vẫn còn sinh nhai bằng nghề săn thú rừng. Nơi đó, thiên nhiên không chỉ là môi trường sống mà với người bản địa còn là tâm linh. Khánh bạc leng keng hay là thứ âm thanh nhắc nhủ lay động lòng người. Chuyện như được kể từ thời xa lắm. Cái thời mà đôi khánh bạc trai gái trao lời ước hẹn, thời truy vượn, tìm gấu, săn hổ, săn nai. Thời thao thiết rưng rưng câu chuyện người rừng bơ bơ, lạc lối. “Khánh bạc leng keng” kể chuyện bằng nhịp tâm trạng, mà điệu thê lương, tăm tối, mịt mùng xâm lấn, bao phủ đôi khi như muốn nhấc bổng cả ý tưởng giản đơn của tác giả lúc ban đầu vì anh chỉ muốn gửi gắm một điều rằng chính những người miền núi cũng đang băn khoăn không biết nên ứng xử thế nào để hài hòa với thiên nhiên mà không làm hại đến điều mà với họ rất đỗi thiêng liêng. Tình yêu và ẩn ức. Hồi kết nào của cuộc săn, sau tàn sát chắc gì đã ngây ngất mãi niềm vui sướng của kẻ thắng? Tác giả Hữu Vi không một lời lên án bàn tay đã bấm cò lên khẩu súng săn. Thế nhưng rõ ràng chúng ta đã đọc được rơm rớm niềm đau trong những yếu ớt, lặng câm, gục ngã cầm thú. Người viết và cả chúng ta đã cảm nhận được rằng những con thú cũng có trái tim, cũng biết quẫy đạp cầu cứu trong vô vọng. Và như những vết cứa từ lời cảnh tỉnh vang lên trong tiếng khánh bạc leng keng…(Lời bình của BTV Võ Hà)

Đặc sắc bản

Đặc sắc bản "Kim Vân Kiều tân truyện” lưu trữ tại Thư viện Anh quốc 4/12/2020

Đến nay, theo thống kê khá đầy đủ, đã có trên 30 bản dịch “Truyện Kiều” ra ngót 20 thứ tiếng nước ngoài, trong đó có 13 bản tiếng Pháp, 10 bản Hán văn và Trung văn, các bản dịch tiếng Nga, Anh, Nhật, Đức, Tiệp, Hungari, Rumani, Hàn Quốc, v.v… Các học giả quốc tế đều đồng thanh ca ngợi “Truyện Kiều” là tác phẩm xứng đáng nhất của nền thơ cổ điển Việt Nam và Nguyễn Du là nhà thơ lớn có một không hai của dân tộc. Tại Thư viện Anh quốc hiện vẫn còn lưu giữ bản “Kim Vân Kiều tân truyện” gồm cả phần lời và phần tranh vẽ minh họa được cho là của tác giả thời Nguyễn...(Tìm trong kho báu phát 03/12/2020

Thơ tình Nguyễn Công Trứ

Thơ tình Nguyễn Công Trứ 4/12/2020

“Kìa núi nọ phau phau mây trắng/ Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi/ Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” – Đó là những câu trong “Bài ca ngất ngưởng” được xem như một bức tự họa về phong cách sống của nhà thơ Nguyễn Công Trứ. Nếu không ngất ngưởng, đa tình, dễ gì cụ Thượng Trứ đã có những bài thơ để đời, để hậu thế hôm nay còn gật gù, nắc nỏm, ngâm nga...(Tìm trong kho báu phát 30/11/2020)

Tâm tư qua mấy giọng thơ hôm nay

Tâm tư qua mấy giọng thơ hôm nay 1/12/2020

Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10 đã bế mạc, song vẫn còn để lại những dư âm trong lòng người sáng tác cũng như công chúng bạn đọc. Chúng ta cùng ôn lại những tâm tư của các nhà thơ là đại biểu tham dự Đại hội qua sáng tác và góc nhìn về thơ hôm nay...(Tiếng thơ 29/11/2020)

Mã QRCODE xem trên mobile
chương trình hôm nay
08h00 - 08h30

Đối thoại mở (đang phát)

10h45 - 11h00 Văn nghệ thiếu nhi
13h00 - 13h30 Đọc truyện dài kỳ
14h30 - 15h00 Hành trình sáng tạo
18h15 - 18h30 Văn nghệ thiếu nhi
18h30 - 19h00 Đối thoại mở
19h00 - 19h30 Đọc truyện dài kỳ
19h30 - 20h00 Sân khấu truyền thanh
21h45 - 22h00 Kể chuyện và Hát ru cho bé
22h30 - 23h00 Tiếng thơ