
Nhân vật chính trong truyện ngắn chúng ta vừa nghe chỉ được gọi là “hắn” chứ không có một cái tên cụ thể. Có thể đó cũng là dụng ý của tác giả để nhấn mạnh nhiều hơn đến tính đại diện và khái quát của nhân vật này. “Hắn” có thể là bất kỳ một người nông dân nào của nông thôn Việt thời hội nhập và bất kỳ người nông dân nào cũng có thể chính là “hắn”. “Hắn” vốn được xây dựng như một nhân vật chính diện, tích cực, chí thú làm ăn, thông minh và giàu sáng tạo. Anh ta đã từng làm thứ gì là thành công thứ đó. Trồng cà phê xen lẫn cây ăn trái cho mùa bội thu, nuôi lợn nuôi gà lớn nhanh như thổi, cho trứng cho thịt thơm ngon được mọi người tin dùng. Anh còn chế tạo thành công máy thái nghiền nén để làm thức ăn tổng hợp cho gà, lợn. Những thành công của anh đã được truyền hình địa phương tuyên dương, làm gương cho mọi người học tập. Thế nhưng, mọi chuyện đã thay đổi khi nông thôn được đô thị hóa, đất làng biến thành đất vàng. Những khoảng không rộng rãi thoáng đãng không còn nữa, thay vào đó là những ngôi nhà cao tầng mọc lên chi chít. Việc chăn nuôi của “hắn” bắt đầu bị ảnh hưởng, ảnh hưởng ngay từ chuyện phơi cám viên. Việc đô thị hóa kéo theo nhiều hệ lụy, trong đó có cả biến đổi khí hậu. Những viên thức ăn tổng hợp một thời là niềm tự hào hãnh diện của “hắn”, bây giờ vì những viên thức ăn ấy mà “hắn” bị kỷ luật, phê bình, cơ sở sản xuất thức ăn của “hắn” bị đình chỉ hoạt động. Nhân vật “hắn” đứng trước nguy cơ giã từ tất cả những công việc yêu thích của mình, đúng như nhan đề tác phẩm đã gọi tên. Những mặt trái của quá trình đô thị hóa nông thôn là điều mà những người có trách nhiệm chưa thể lường trước hết. Bắt đầu từ bi kịch, từ nỗi buồn của một nhân vật cụ thể, nó khiến chúng ta phải suy nghĩ nhiều hơn về bao mảnh đời khác, bao câu chuyện khác. Cuộc chuyển đổi giữa nông dân sang thị dân quả thực đã kéo theo không ít xót xa…(Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)
Nửa đầu thế kỷ 20, làng thơ nước ta xuất hiện một số cái tên mà ngay từ buổi ban đầu “chạm ngõ” thơ đã hứa hẹn về những đỉnh cao. Nhà thơ Chế Lan Viên là một trong số đó. Và rồi gần 60 năm cầm bút, trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, giai đoạn nào ông cũng có những tác phẩm để đời. Điều đáng nói là ngay cả khi tham gia vào những “dàn đồng ca”, “hợp xướng” thơ, Chế Lan Viên vẫn có một phong cách sáng tác riêng không lẫn vào ai...
Nguyễn Công Trứ làm quan dưới bốn triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, lập nhiều chiến công như khai hoang, mộ dân, đánh dẹp các cuộc nổi dậy chống triều đình. Địa vị hiển hách nhưng cũng có những lúc, Nguyễn Công Trứ bị giáng chức, đỉnh điểm là bị lột mũ áo, giáng làm lính thú ở nơi biên thùy. Chương trình hôm nay, mời các bạn cùng dõi theo những bước đường đời của kẻ sĩ: “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông/ Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.

Một câu chuyện rất dễ kể lại, không có nhiều nhân vật và các tình huống thắt mở nút, mâu thuẫn, cao trào nhưng lại khiến người nghe đồng cảm, bởi giọng kể tự nhiên, chân thật của tác giả. Bà Chín sinh ra trong một gia đình khó khăn, con đông, tía má vất vả kiếm miếng ăn nuôi sống đàn con. Tám anh chị em, đứa được đi học đứa phải nghỉ học. Đến khi trưởng thành, cuộc đời bà cũng đâu có sung sướng gì. Mặc cảm với bản thân, bà ở vậy một mình. Cũng vất vả, đầu tắt mặt tối, chả khi nào ngẩng đầu lên được để mà nhìn trời nhìn đất, nhìn cuộc sống chảy trôi làm sao. Mà đâu chỉ riêng bà Chín, số phận bà cũng là số phận chung của người dân cái ấp nghèo nơi cù lao xa xôi, lạc hậu này. Tưởng rằng, gần cuối đời, cuộc đời bà Chín sẽ chỉ quanh quẩn nơi góc nhà chái bếp với con Na, chẳng bao giờ có điện chỉ để mong được xem cải lương cho đã…Nhưng thật bất ngờ, điện đã được kéo ra tận cù lao-một thứ ánh sáng trắng không còn dành riêng nơi đô thị, nó sẽ lan tỏa khắp vùng quê, cù lao sẽ được thay áo mới, lớp trẻ sẽ không còn vất vả, thiệt thòi như ông, bà của chúng ngày xưa. Chính ánh sáng trắng đã xua đi cái lạc hậu, tối tăm và thắp lên hy vọng đổi đời cho bà Chín cũng như bao phận người thôn quê khác (Lời bình của BTV Vũ Hà)

Vắn gọn nhưng cô đọng, “Lời páo dung trong sương” thu hút người đọc từ những dòng đầu tiên. Có ai lại hờ hững với những chuyện lạ lùng, có phần li kì, nhất là những chuyện ấy lại là của một người đẹp. Cuộc đời Mùi Tá có nhiều khúc truân chuyên. Nhưng có vẻ tác giả Vi Thị Thu Đạm không mấy bận tâm tới việc nhân vật đã vượt qua những khó khăn như thế nào. Lần Mùi Tá bị bố đánh gẫy chân, không cho đi học, cô chỉ cười. Chuyện gì đã xảy ra trong lần đầu tiên Mùi Tá bỏ nhà bố đẻ hay ba lần rời nhà chồng, tác giả cũng không kể… Chỉ vẻn vẹn trong mấy trang truyện, Mùi Tá – từ khi còn ở tuổi thiếu nữ cho tới khi là góa phụ 19 tuổi, đem đến cho người đọc nhiều câu hỏi “tại sao?”, “vì đâu” nhưng đều không nhận được câu trả lời rõ ràng. Những điều chi tiết cụ thể trong cuộc đời cô gái dường như cũng bị sương mù trên đỉnh Sơn Mẫu che phủ, nhưng dẫu vậy cũng đủ để người ta thấy xót thương. Cuộc đời của Mùi Tá đã sớm chịu cảnh bỏ học giữa chừng, làm vợ, làm mẹ khi còn quá trẻ, và rất có thể, cô đã chịu những giày vò khác trong những lần bỏ bản mà đi. Chồng mất, con thì đã bán, Mùi Tá dường như chẳng còn gì ngoài lời páo dung trong sương. Nhưng ngay cả lời páo dung cũng buồn bã xiết bao: “Không thể không gặp bởi lòng quá nhớ / Chả lẽ để nỗi nhớ trong lòng năm này qua năm khác…” (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)
Ân tình với quê hương, xứ sở vẫn luôn là ngọn nguồn của những vần thơ day dứt khôn nguôi. Không cứ là xa xứ sẽ viết về quê một cách bồi hồi. Như nhà thơ Hải Thanh, lên phố rồi, chẳng cách làng quê tuổi thơ mình bao xa mà thơ vẫn nặng mang một nỗi nhớ khôn cùng. Để rồi chân đi chốn nào, viết về điều gì, quê hương vẫn thấp thoáng trong thơ anh
Truyện phản ánh chân thực bức tranh làng quê với những đổi thay mà hậu quả của việc xây dựng những khu công nghiệp, nhà máy…gây ra nhiều tổn thất mà người dân phải hứng chịu. Chính quyền các cấp loay hoay với nhiều phương án xử lý trong khi những cán bộ như Hán đã kịp thay đổi vị trí khi có điều kiện. Một nỗi buồn xâm chiếm tâm can người đọc, người nghe với những câu hỏi chưa có lời đáp…
Cùng với sự phát triển trong tư duy, nhận thức và quan niệm nghệ thuật, những bổn phận của con người chức năng, đạo nghĩa quân – thần của các Nhà Nho càng ngày càng có sự tiếp biến, mềm mại. Đó cũng là lý do chất Nhà Nho tài tử của các tác giả thơ Nôm thể hiện qua sự bộc lộ con người và những cá tính bản thân đến thế kỷ 18, 19 đậm nét hơn những thế kỷ trước. Tuy vậy, những tác gia lớn, dù làm quan và sáng tác trong thời kỳ nào, vẫn có những phương cách để bộc lộ toàn vẹn, đầy thuyết phục chất Nhà Nho tài tử...
Câu chuyện kể về ông Thanh đi tìm đông đội . Cuối cùng ông vỡ òa trong sung sướng khi biết tin thị đội Quảng Trị đã tìm được hài cốt của hai người lính trong chiếc thùng phuy. Hình ảnh chiếc thùng phuy đựng hài cốt người lính hi sinh và đoàn cựu chiến binh nguồi đầy khoang tàu tìm lại đồng đội khiến người đọc, người nghe nghẹn ngào cảm xúc...
Truyện xoay quanh những vấn đề của lớp trẻ lớn lên ở làng quê nhưng thực chất cũng là xoay quanh câu chuyện của làng xã. Một làng quê, đang trên đà lên phố , dưới tác động của cơ chế thị trường. Sự thay đổi của làng quê đến chóng mặt gắn với những biến cố : Đường nâng cấp, đất mặt đường đội giá, bố Tăng nhượng mảnh vườn. Mảnh đất biến thành chốn nhậu nhẹt, bố Tăng bị tai nạn. Chi sa ngã khi đang học dở dang. Làng chặt hạ cây đa 200 tuổi....v.v và vv
Trong các bộ môn nghệ thuật nói chung, thi ca nói riêng, có những đề tài không bao giờ cũ, luôn trở thành cảm hứng muôn đời cho các thi sĩ, ở mọi dân tộc và thời đại. Một trong những đề tài như thế chính là người mẹ. Nhắc đến mẹ là nhắc đến một nỗi niềm, một tình cảm vừa thiêng liêng vừa sâu sắc, khiến mỗi chúng ta không nguôi niềm thương nhớ, lòng biết ơn với bao xúc động khôn nguôi. Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, Đôi bạn văn chương phát 21/10 xin gửi tới quý vị một chương trình trò chuyện thơ ca mang tên: Lòng Mẹ
Những ngày qua, cả dải đất miền Trung trải qua trận lũ lịch sử - Vẫn là những cơn mưa trắng trời dội buốt trái tim những người con ở phương xa.Vẫn biết năm nào rồi cũng đến hẹn…lại lo, nhưng với người miền Trung, nỗi lo mỗi mùa lũ trắng trời dường như nhân lên, mỗi mùa mỗi khác. Những mất mát, tai ương không thể đoán trước để lại bao ngổn ngang nỗi đời...
Như chúng ta đã biết, năm 1964, Giáo sư Trần Thanh Mại đã phát hiện và công bố tập “Lưu hương ký” gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ Nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương do bạn thơ Tốn Phong thị viết tựa. Đáng nói là ngôn từ, tâm sự các bài thơ Nôm trong tập thơ này đậm chất trữ tình, khác với hình dung về một tài nữ đáo để, sắc sảo trong hầu hết thơ Nôm truyền tụng. Nói như vậy không có nghĩa là mảng thơ Nôm Hồ Xuân Hương truyền khẩu trong dân gian hoàn toàn là tinh nghịch, giễu nhại...
Câu chuyện được tác giả kể với giọng văn nhẹ nhàng, chân thật pha chút tự giễu qua tự sự của nhân vật Phú. Những mâu thuẫn, xung đột giữa mới và cũ được lồng ghép tự nhiên khiến người đọc, người nghe nhất là người ở thôn quê dễ đồng cảm. Và chắc nhiều người sẽ tự nhủ thầm , giá như làng mình, thôn mình cũng vẫn giữ được nét đẹp như xưa.