Ký ức dù đẹp đến đâu, long lanh đến như thế nào cũng không có gì làm đảm bảo để ta có thể bấu víu, xây dựng một cuộc sống hiện tại yên ổn và một tương lai vững bền. Đây là điều mà Nguyễn Hương Duyên-cây bút trẻ ở mảnh đất Quảng Bình chang chang nắng cát muốn nhắn gửi với chúng ta qua truyện ngắn “Mong manh ký ức”
Nhà thơ-nhà báo Duy Thảo sinh năm 1938, quê quán tại làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Lấy sự rung động chân thành là điểm xuất phát của sáng tạo, các tập thơ của ông thường có tựa đề thật gần gũi: “Lối xanh”, “Sau mùa lá rụng”, “Bến mặn”, “Góc chiều”, “Nỗi xưa”… Tập thơ gần đây nhất mang tên “Lối về” dành riêng tặng mẹ và vợ - hai người phụ nữ quan trọng nhất cuộc đời ông, cũng là lời khẳng định sự trở về với nguồn cội quê hương, với tình nghĩa trước sau như một. Nhà thơ Duy Thảo sinh ra bên dòng sông La, và con người ông, lẽ sống mà ông theo đuổi cũng trong xanh hiền hòa như dòng sông ấy. Xin giới thiệu chân dung nhà thơ Duy Thảo – một dòng La xanh… (Tiếng thơ 06/06/2020
“Trái tim sói tuyết” là truyện ngắn lấy cảm hứng chủ đạo từ lễ “Xên bản”, một lễ cúng thiêng liêng và đậm chất văn hóa của đồng bào Thái Tây Bắc thường tổ chức vào đầu năm để cầu đất trời, thần linh cho dân bản một năm không bệnh tật, mưa thuận gió hòa. Từ đó, câu chuyện dựng lên những bi kịch, giằng xé và những âm mưu thủ đoạn xoay quanh...(Đọc truyện đêm khuya phát 04/06/2020)
Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện rõ ràng nhiều tư tưởng của Kinh Dịch, nên được gọi là Dịch lý, biểu đạt qua ba trạng thái bản chất là giao dịch, biến dịch và bất dịch. Trong đó, trạng thái bất dịch chỉ các qui luật với tính chất thường hằng vĩnh cửu của nó, là sự vận động không đầu không cuối, trong tính quy luật vĩnh viễn của tạo hóa. Trạng thái ấy còn có tên gọi là thiên lý – Tức chỉ nguyên lý của vũ trụ...
Truyện khép lại trong cảnh Út lao sang chốt 4 dưới làn mưa đạn để tìm bằng được người đội trưởng của mình. Một cái kết rất mở của tác phẩm đã gợi cho chúng ta biết bao điều suy nghĩ. Người đọc nào cũng mong muốn Út sẽ gặp được đội trưởng và đưa tận tay bức thư báo tin vui cho anh. Nhưng rất có thể Út hoặc đội trưởng sẽ ngã xuống trên chiến trường như nhiều người lính khác, thì niềm vui này vẫn là một niềm vui có thật, một hạnh phúc lớn lao, mang trong đó biết bao tin yêu, hy vọng như chính cái tên mà đội trưởng đã dành cho đứa con của mình: Hòa Bình. Đó cũng là một ngợi ca về sự sống, về sức sống mãnh liệt của một dân tộc quật cường...
Nhà thơ Trương Hữu Lợi sinh năm 1948, quê Bắc Lý – Lý Nhân – Hà Nam. Ông thường lấy hai câu thơ: “Người thơ chân thành sám hối/ trước những thánh thần lầm lũi ngày đêm” để nhắc nhở bản thân trong suốt cuộc đời làm báo làm thơ. “Thánh thần” trong quan niệm của ông không phải đấng siêu nhiên mà chính là nhân dân bình dị bao đời. Ông sinh vào tháng năm, ra đi cũng vào tháng năm. Tháng năm này, tròn năm năm nhà thơ Trương Hữu Lợi đi xa… (Tiếng thơ 30/05/2020)
Sự sắc sảo, chính xác và giàu sức gợi trong câu từ, vốn là thế mạnh của nhà văn Tống Ngọc Hân, tiếp tục được chị thể hiện trong “Trở lại Hỏa Phong”. Câu chuyện về những thanh niên nuôi chí làm giàu trên mảnh đất quê hương nếu chỉ đi theo diễn tiến thường tình, mà thiếu đi sự đan xen về giấc mơ kỳ lạ của nhân vật chàng kỹ sư Nông nghiệp, thiết tưởng truyện ngắn này cũng sẽ khó lưu lại những dư âm trong người đọc, người nghe...(Đọc truyện đêm khuya phát 28/05/2020)
Bài thơ Nôm số 92 còn có tên là “Thú thanh nhàn” với câu mở đầu: “Giàu mặc phận thác đâu bì/ Đọ thanh nhàn, khá nhất nhì” đã nâng thú thanh nhàn lên bậc cao nhất, cao hơn cả sự giàu có và trường sinh. Ẩn dật chưa bao giờ là lựa chọn khó khăn của cụ Trạng. Bởi hơn ai hết cụ thấu suốt lẽ xuất – xử, biết lúc nào nên ẩn, nên tàng. Cho nên mới gọi cuộc ẩn cư của cụ là “Thú nhàn” thay vì “Sự nhàn” như cụ Ức Trai...(Tìm trong kho báu phát 28/05/2020)
Thưởng thức “Mặt trời, ông già và cô gái” của Súc-sin, chúng ta có thể liên tưởng đến sự tương đồng phong cách trong những truyện ngắn của nhà văn Thạch Lam. Đó là những tác phẩm có cốt truyện đơn giản, không chú trọng về những xung đột, những cao trào, nhưng luôn giàu chất thơ và chinh phục mỗi người đọc người nghe bởi dư âm sâu thẳm, bởi sự gợi cảm, toát ra những ý nghĩa nhân văn đẹp đẽ. Những trang văn của Súc-sin cũng như Thạch Lam có thể khiến chúng ta biết sống chậm hơn trong những xô bồ ồn ã của cuộc sống đời thường, để rồi từ đó biết yêu mến hơn những điều bình dị của cuộc sống này...(Đọc truyện đêm khuya phát 25/05/2020)
Câu chuyện thanh niên bỏ quê ra phố để lập nghiệp không có gì lạ. Chỉ có những người bỏ phố về quê như Tuấn, như Hương trong câu chuyện “Kẻ ngụ cư” mới hiếm. Tuy nhiên, ngay cả câu chuyện trở về, làm giàu từ đất quê mình cũng có muôn ngàn lựa chọn mà mỗi một quyết định lại đẩy người ta tới những ngã rẽ khác của cuộc đời. Tuấn có những trăn trở riêng. Anh muốn làm đẹp cho đời chứ không dừng lại ở việc kiếm miếng cơm manh áo. Mong muốn của Tuấn không sai, và kể cả khi anh thành công, anh vẫn trở thành một kẻ ngụ cư trên chính quê hương mình. Đổ vỡ hôn nhân, bị người làng xa lánh vì dám báng bổ nghề làm hàng mã truyền thống, Tuấn cô đơn trong chính thành công của mình, trong chính lí tưởng mà lẽ ra nên được người đời ca ngợi… (Đọc truyện đêm khuya phát 22/5/2020)
Là một trong những nhà văn viết nhiều về đề tài nông thôn, nhà văn Trần Thanh Cảnh dường như tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận ở quê hương Kinh Bắc cũng như từ những người xung quanh ông. Trang viết của Trần Thanh Cảnh bao giờ cũng sinh động, đầy ắp chất liệu đời sống, không thiếu cả mĩ nhân lẫn kì nhân. Trong chương trình Đọc truyện đêm khuya phát 21/5/2020, chúng ta cùng đón nghe phần đầu một tác phẩm mới của ông có nhan đề “Kẻ ngụ cư”.
Trong nhiều bài thơ, tứ thơ Nôm, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc tới chữ “an phận”, chữ “nhàn” như một lý tưởng sống. Thực tế đây là một trong những khía cạnh trong quan niệm về nhân lý, kết quả của mối giao cảm giữa các hoạt động của con người. Trong khuôn khổ chương trình phát ngày 21/5/2020, chúng tôi đi sâu vào một số đặc điểm trong nguyên tắc nhân lý thể hiện trong thơ ca Quốc âm Nguyễn Bỉnh Khiêm, cụ thể là “Bạch Vân Quốc ngữ thi tập”...
Vào dịp 19 tháng 5 năm 1968, nhà thơ Trần Đăng Khoa khi ấy là cậu bé hơn mười tuổi đã chép 20 bài thơ của mình và gửi ra Hà Nội để tặng sinh nhật Bác. Hiện nay kỉ vật này đang được được lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh. Với nhà thơ Trần Đăng Khoa, dù chưa một lần được gặp Người, nhưng từng trang thơ trang văn về Người luôn được ông cất giữ trong sâu thẳm trái tim… (Tiếng thơ 20/05/2020)
Trẻ em lớn lên trong những ngôi trường không còn cửa sổ, không bao giờ được nhìn ra ngoài để thấy trời xanh, mây trắng, nghe vọng tiếng chim hót… Tất nhiên không bao giờ, đứa trẻ hiếu động có được một kỷ niêm đẹp: nhảy ra ngoài của sổ. Những đứa trẻ như vậy, liệu có thể lớn lên thành một người lớn giàu trí tưởng tượng, mơ mộng? Từ trẻ con tới người lớn đều sống trong những ngôi nhà không có cửa sổ. Họ không thể bay qua cửa sổ đến thế giới rộng lớn hơn và họ cũng buộc trẻ con phải như vậy. Truyện ngắn "Ba tao bay qua của sổ" được nhà văn Trần Nhã Thụy viết pha chút hóm hỉnh, tự giễu và ẩn dấu sự châm biếm cách giáo dục hiện nay.