Những ngày giá rét này, chúng ta cùng nghe và ngẫm lại ý tình trong những áng thơ Nôm vịnh cảnh mùa đông. Cũng từ đó để thấy rằng các thi nhân xưa không chỉ tinh tế, nhạy cảm với chuyển động của đất trời mà qua đó còn thể hiện bản lĩnh, cốt cách, gửi gắm nỗi lòng với cuộc đời, với nhân sinh...

Tôi thực sự xúc động khi đọc truyện ngắn “Người trong mưa lũ” của nhà văn Sương Nguyệt Minh. Và chắc chắn nhiều người đọc, người nghe câu chuyện này cũng có cảm nhận như tôi. Một câu chuyện gay cấn, hồi hộp khi kể lại quá trình đi đỡ đẻ của người bác sĩ quân y trong cơn lũ. Dù thời tiết khắc nghiệt, phương tiện thiếu thốn đủ bề nhưng nghe tin có người phụ nữ “vượt cạn” là anh lập tức lên đường. Trên đường đi nhân vật bác sĩ quân y gặp nạn khi chiếc mủng của anh bị thủng. Trong cảnh trời nước mênh mông, anh phải bám víu vào mấy cây tre để không bị nước lũ cuốn đi. Anh hy vọng rồi thất vọng khi người đàn ông bơi mủng ngang qua không cứu giúp. Nhưng rồi đồng đội của anh đến kịp thời đưa anh đi đỡ đẻ cho người phụ nữ. Một câu chuyện rất nhiều tình huống, chi tiết hồi hộp, căng thẳng và ẩn chứa nhiều cảm xúc con người. Trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ, con người phải đối mặt với sự sống và cái chết, giữa cái chung và cái riêng. Bình thường anh cu Nhắng có lẽ cùng là người tốt nhưng trong hoàn cảnh mưa lũ như thế anh từ chối cứu bác sĩ quân y để về với người vợ đang đau đẻ của mình. Chúng ta cũng khó trách được nhân vật anh cu Nhắng khi anh cũng vì gia đình của mình. Còn với người chiến sĩ lực lượng vũ trang thì các anh luôn có ý thức vượt khó, vượt gian khổ vì người dân. Dù cả đêm chịu mưa lũ đến tím tái cả người nhưng khi nghe thông tin có người dân gặp nạn là các anh lao xuồng đi cứu giúp ngay. Truyện ngắn có những chi tiết sẽ ám ảnh người đọc, người nghe như hình ảnh đàn vịt câm lặng đứng trên xác con trâu chết hay hình ảnh anh cu Nhắng vừa bơi mủng đi vừa vái lạy tạ lỗi. Hình ảnh bốn người cầm bốn góc ni-lông che chắn người phụ nữ sinh con trong cơn mưa lũ cũng rất đắt giá. Nó thể hiện sự đoàn kết, tình quân dân vượt qua khắc nghiệt của thiên tai. Cũng rất tình cờ và trớ trêu khi người phụ nữ được cứu giúp lại chính là vợ của anh cu Nhắng. Một truyện ngắn xúc động tô đẹp hình tượng của người chiến sĩ lực lượng vũ trang cũng như phản ánh được khó khăn của người dân đang khó khăn, khổ cực trong vùng lũ...(Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Truyện ngắn “Chí đại dương” kể cho chúng ta nghe về Kình, một ngư dân táo bạo, bản lĩnh và gan dạ. Kình bám biển bằng mọi giá, dẫu bị thương nặng sau vụ tai nạn trên biển, Kình vẫn nhất quyết bám biển để sinh tồn. Cuộc sống của Kình gặp nhiều sóng gió, thử thách nhưng anh không bao giờ khuất phục. Trận bão kinh hoàng năm ấy tưởng đã nhấn chìm Kình xuống đại dương nhưng anh vẫn sống sót, từ tỉ phú về nghề làm nước mắm và nuôi cá, Kình trắng tay. Thế nhưng, với bản lĩnh kiên cường và có phần lì lợm, táo bạo, Kình làm lại từ đầu. Không ai nghĩ rằng, một người đàn ông ngư dân què quặt như Kình lại có thể làm những điều phi thường như thế. Xưởng nước mắm nức tiếng cả một vùng, rồi lan rộng khắp cả nước của vợ chồng Kình được xây dựng từ bộ óc sáng tạo, từ ý chí và bản lĩnh, quyết tâm của Kình. Giấc mơ làm giàu chính đáng trên vùng biển quê hương đã giúp Kình vượt qua mọi sóng gió, thử thách. Nhà văn Đỗ Tiến Thụy tập trung xây dựng nhân vật thông qua diễn tiến câu chuyện, để nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất qua lời nói, hành động. Chúng ta nghe cách nói của Kình với vợ con, với khách lạ rất phớt lờ, có phần hơi cộc cằn, thế nhưng, đằng sau đó là một con người có chí lớn, dám nghĩ dám làm. Kình muốn các con mình phải biết nuôi ý chí chinh phục đại dương. “Kình sẽ kiên định với kế hoạch của mình. Hải trình vươn khơi dở dang của cha ông phải được thằng Kiếm tiếp nối với một con tàu to, không chỉ chống chọi được bão tố từ trời, mà còn đủ sức đối đầu với những cú đâm húc từ những con tàu nước lớn luôn rắp tâm tranh cướp ngư trường”. Mong cho khát vọng của Kình được thực hiện bởi đứa con mà anh đang kì vọng, đó là giấc mơ lớn vươn xa đến với đại dương, một chí lớn đáng trân trọng. Phải chăng đó cũng là thông điệp mà nhà văn Đỗ Tiến Thụy gửi gắm trong truyện ngắn này…(Lời bình của BTV Vân Khánh)
Những năm quân và dân ta chiến đấu bảo vệ đất nước đánh đuổi đế quốc Mỹ, tại Đức, “Truyện Kiều” đã được vợ chồng nhà khảo cứu kiêm dịch giả Irene và nhà thơ Franz Faber chuyển ngữ. Năm 1964, một năm trước dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, ấn phẩm “Das Mädchen Kiều” đã ra mắt công chúng, bạn đọc nước Đức. Theo Tiến sĩ ngôn ngữ Trương Hồng Quang, sau lần xuất bản đầu tiên và lần tái bản duy nhất năm 1980, “Truyện Kiều” tiếng Đức đã từ lâu tuyệt bản. Nhằm làm sống dậy bản tiếng Đức kỳ công chuyển ngữ kiệt tác của Đại thi hào Nguyễn Du, dự án “Truyện Kiều” song ngữ Đức – Việt đã được thực hiện và ra mắt năm 2016.

"Chạy ngập" miêu tả cảnh chạy lụt của một vùng dân cư gần bờ sông. Truyện mở ra với nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp, sôi động. Những gia đình bị nước ngập phải di tản đến vị trí cao hơn, cụ thể là cùng nhau chuyển vào phía trong gò, ở nhờ nhà ông nội của Dũng. Bên cạnh đó, mỗi gia đình vẫn phải có người túc trực, canh chừng ở khu nhà ngập để trông coi tài sản, theo dõi diễn biến của dòng nước để còn kịp thời ứng phó. Nhiều gia đình đã bị lũ cuốn trôi mất nhà, như gia đình cô Sinh. Truyện tiếp tục được kể qua ngôi thứ nhất, xưng tôi, của nhân vật Dũng. Trong khó khăn, tình người càng trở nên ấm áp bởi sự đùm bọc giúp đỡ, yêu thương chia sẻ. Trẻ em luôn là đối tượng được quan tâm, chăm sóc nhiều nhất dù những bữa cơm ngày chạy lũ thật đơn sơ, thậm chí là phải ăn cơm độn khoai. Có thể thấy, nhà văn Du An đã có những miêu tả rất sống động, chi tiết và thành công về đời sống sinh hoạt của con người trong ngày chạy lũ. Nào là sự náo nhiệt của mỗi bữa cơm khi những đứa trẻ chìa tay chìa bát nhao nhao xin đồ ăn, nào là cảnh ngủ chung líu ríu ở dưới sàn nhà, nào là cảnh nước ăn chân, cảnh bơi thuyền, cảnh di chuyển những bu gà, bu ngan. Một trong những đoạn đặc biệt sống động là phần miêu tả bọn trẻ con đi hái trộm mít do Dũng dẫn đầu. Gần chục quả mít được xơi hết khiến bọn trẻ no căng, bữa tối không thể ăn được cơm nên người lớn dễ dàng phát hiện ra. Bố mẹ của đám trẻ thì ái ngại nhưng ông nội Dũng chỉ cười hiền, không mắng cũng không phạt. Truyện kết thúc bằng hình ảnh Dũng mang sách giáo khoa bị ướt đi phơi để chuẩn bị cho năm học mới. Trải qua bao năm tháng, qua bao cuộc đấu tranh sinh tồn, những con người đã học được cách sống chung với thiên tai và khắc phục thiên tai. Trong lòng họ giữ trọn một trái tim nhân hậu, sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ, đồng thời luôn biết hướng về tương lai với nhiều tin yêu và hy vọng. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)

Những trận mưa lũ càn quét mấy tỉnh miền Trung hồi tháng 10 vừa qua vẫn là nỗi ám ảnh day dứt không nguôi với nhiều người, nhất là với những ai trong cuộc đời đã từng trực tiếp chứng kiến. Nỗi ám ảnh gợi nhớ ký ức, kỷ niệm về những trận mưa lũ khủng khiếp đi qua trong đời. Thế hệ này kế tiếp thế hệ sau, năm này nối tiếp năm sau. Đến hẹn mưa lũ lại về, lâu lâu lại có những trận lũ thảm họa, kinh hoàng. Nhân vật tôi – người kể chuyện là một nhà báo đã tái hiện lại trận lũ xảy ra cách nay đã 20 năm tại xã Dú Tiên. Như bao trận lũ khác sự giống nhau ở tính chất bất ngờ, đầy tai ương và sức tàn phá, hậu quả để lại khốc liệt. Truyện ngắn “Đêm vỡ núi” của nhà văn Nguyễn Trần Bé mang đậm chất ký sự vì cách kể chuyện đậm chất báo chí, lối hành văn mang tính trần thuật một cách kỹ càng trung thực, đậm tính thời sự và hướng đến cả vấn đề nóng, mới của ngày hôm nay. Đó là lũ lụt ngày càng là mối đe dọa là thảm họa thường trực của con người. Sau hai mươi năm, thiên tai này không hề suy giảm mà có phần tăng, mức độ trầm trọng hơn. Nguyên nhân sâu xa đưa đến tình trạng lũ quét sạt lở đất cũng được nhà văn, thông qua nhân vật khéo léo lý giải. Đó là do nạn phá rừng và xây dựng thủy điện một cách tùy tiện. Nhân vật Tài Học, Tài Vinh đã nhìn ra và khắc phục bằng cách trồng rừng, và ngăn chặn việc xây dựng thủy điện. Nhân vật của truyện được tác giả xây dựng như một chân dung báo chí, điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất. Tuy nhiên có lẽ nhà văn chưa đi đến tận cùng của sự lý giải nguyên nhân. Sự phá rừng ở đây là rừng nguyên sinh. Mà cho dù chúng ta có trồng cây gây rừng thì đến hàng trăm năm, may ra mới có được thứ rừng nguyên sinh đã tàn phá vì rừng nguyên sinh là thứ rừng nhiều tầng, nhiều thảm thực vật cùng sinh sống, thứ cây cổ thụ bám rễ sâu mới giữ được đất chứ không phải thứ cây trồng mươi năm lại khai thác. Nếu chúng ta cứ tiếp tục phá rừng nguyên sinh rồi yên tâm là vẫn duy trì phong trào “trồng cây gây rừng” để bù vào thì có lẽ người dân sẽ vẫn mãi mãi chịu cảnh lũ lụt lũ quét mà thôi. Giá như nhà văn đi sâu tận cùng sự lý giải điều này thì có lẽ truyện sẽ sâu và có sức truyền cảm nhiều hơn. (Lời bình của BTV Lê Tuyết Mai)
Một khi đã trót làm thơ, có duyên còn trở lại và khó dứt được thơ. Bao lâu nay rồi, điều ấy không chỉ xảy đến với riêng tác giả Nguyễn Hồng Hải. Xuất thân sinh viên Văn khoa Tổng hợp, làm thơ từ thưở đôi mươi, 21 tuổi Nguyễn Hồng Hải đã có tập thơ đầu tay “Lời yêu của đá” được giới sinh viên ngày ấy chuyền tay nhau. Tận 18 năm sau ngày ấy, anh mới lại in tập thơ thứ hai – “Mùa ban mai”. Và mới đây là tập “Vườn của mẹ” dày dặn 58 bài thơ kèm một Tuyển tập 81 bài.

Truyện ngắn “Đêm lũ mưa” được nhà văn Sương Nguyệt Minh viết sống động như một trang phóng sự với nhiều hình ảnh, sự kiện khi nhân vật tôi là nhà báo, nhà văn đi cứu trợ người dân vùng lũ. Nhưng không vì thế mà câu chuyện thiếu đi những yếu tố nghệ thuật. Tác giả đã chú trọng xây dựng các tình tiết câu chuyện, sự kiện và nhân vật đáng nhớ. Là người đi cứu hộ dân bị lũ tại Tà Rông nhưng nhân vật tôi gặp tình huống khó xử khi bị bắt làm con tin. Trong cơn cùng quẫn không lối thoát khi bị kẹt lại trên đồi Mâm Xôi thì người dân bám vào ý nghĩ giữ anh lại thì trực thăng cứu hộ chắc chắn sẽ quay lại. Khi đồi Mâm Xôi bị xói mòn từng giờ, từng phút là lúc nào cũng có thể biến mất trong biển nước thì nhân vật trở thành chiếc phao cứu sinh để người ta hi vọng sống sốt. Trong đêm mưa lũ đó, nhân vật được chứng kiến những mặt sáng tối của con người. Trong khi già làng, bà Sơ cùng người đàn bà câm cưu mang nhau qua hoạn nạn thì gã thợ sơn tràng lúc nào cũng chỉ nghĩ tới bản thân. Câu chuyện được kể đan xen những tình tiết và cảm xúc. Từ chỗ tức giận khi bỗng bị người dân bắt làm con tin, nhân vật thương cảm cho tình cảnh của họ, anh sợ hãi khi bị gã sơn tràng gây nguy hiểm, anh liều mình cứu người thoát nạn… Chỉ một đêm thôi mà nhân vật đã trải qua biết bao cảm xúc thăng trầm. Vậy thì những con người bị kẹt lại hàng tuần, hàng tháng trong vùng lũ sẽ trải qua những biến động to lớn như thế nào trước mất mát và đói rét. Đó cũng là điều khiến người đọc, người nghe phải suy ngẫm. Có những chi tiết xúc động như việc người đàn bà câm cửi chiếc áo phao duy nhất vứt xuống nước lũ để cứu gã đàn ông đã bỏ mọi người chạy trốn một mình. Câu chuyện có cái kết ấm lòng khi gã sơn tràng lấy người phụ nữ câm làm vợ. Truyện ngắn giàu hình ảnh, sự kiện, chị tiết sinh động giúp người đọc, người nghe hiểu được phần nào cuộc sống của những người dân đã và đang chịu thiên tai lũ lụt...(Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)
Nhật Bản vốn là một đất nước có nền văn hóa lâu đời cũng như những di sản văn học tầm cỡ, thế nhưng khi tiếp xúc với văn bản tác phẩm “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du của nước ta, từ giới trí thức đến người bình dân xứ mặt trời mọc các thời kỳ đều ngạc nhiên và ấn tượng. Đó là khởi nguồn để ra đời những bản dịch tác phẩm “Truyện Kiều” sang tiếng Nhật Bản. Những trao đổi giữa BTV chương trình với PSG.TS Đoàn Lê Giang ngay sau đây khẳng định vị thế của kiệt tác văn học nước ta không chỉ gói gọn trong vùng lãnh thổ...
Mỗi năm cứ đến ngày 22/12, ngày quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta lại dành tình cảm hướng về những chiến sĩ, những người lính miệt mài ngày đêm không nghỉ, đang hy sinh hạnh phúc cá nhân để sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hình ảnh người lính, hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ đã đi vào biết bao tác phẩm thơ nhạc đặc sắc, làm nên những ấn tượng khó phai trong lòng mỗi người đọc, người nghe. Với ý nghĩa đó chương trình Đôi bạn văn chương phát 16/12 sẽ có chủ đề “Trái tim người lính”...
Nói đến nhà thơ, nhà viết kịch, PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, nhiều người biết ông là tác giả của những vở kịch nổi tiếng như “Chuyện tình Khau Vai”, “Mai Hắc Đế”, “Hừng đông”, “Thầy Ba Đợi”, “Ngàn năm mây trắng”…. và hai tập thơ “Về lại triền sông” và “Nhớ thương ở lại”. Ngoài ra, ông còn gánh trên vai nhiều trọng trách với tư cách là một vị lãnh đạo, là Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương. Mặc dù bận rộn với công việc, ông vẫn luôn dành thời gian cho văn chương. Gần đây, ông còn xuất hiện với một vai trò mới – một tiểu thuyết gia với “Chuyện tình Khau Vai” (ra mắt vào năm ngoái) và mới nhất là tiểu thuyết “Hừng đông”, do NXB Văn học ấn hành. Để hiểu thêm về cuốn sách này, chúng ta cùng nghe cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Thế Kỷ với phóng viên chương trình.
Từ bao đời, thời gian nói chung và bốn mùa nói riêng đã là nguồn cảm hứng cho bao thi sĩ, đã đi vào biết bao tác phẩm thi ca như một chứng nhân không thể thiếu cho những tâm sự, những câu chuyện, những nỗi lòng. Xét trong thi ca Việt từ cổ điển cho đến hiện đại, mùa thu và mùa xuân được đi vào thơ dễ dàng hơn mùa đông và mùa hè, có lẽ một phần lớn bởi cảm giác dễ chịu mà thời tiết mang lại. Mùa đông và mùa hè xem ra có phần khắc nghiệt hơn bởi mùa hè thì quá nóng còn mùa đông lại quá lạnh, thế nhưng điều đó vẫn không cản trở việc hai mùa này đi vào những tác phẩm thi ca. Trước ngưỡng cửa của mùa đông năm nay, chúng tôi muốn gửi tới các quý thính giả một chương trình trò chuyện thơ ca mang tên "Những mùa đông yêu dấu" với hy vọng mùa đông dù rằng lạnh lùng nhưng những bài thơ, câu thơ mùa đông lại có khi giúp sưởi ấm lòng người...
Tưởng nhớ NSND Trần Thị Tuyết, người gắn bó với làn sóng Văn học Nghệ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam, chương trình tuần này dành một phần thời lượng ôn lại những dư âm của một giọng ngâm thơ được nhiều thế hệ công chúng, thính giả mến mộ. Chúng ta có thể cảm nhận được niềm yêu mến, trân trọng trong niềm thương nỗi nhớ với một trong những giọng ngâm làm nên bản sắc “Tiếng thơ” của Ban Văn học - Nghệ thuật – Đài Tiếng nói Việt Nam.

Có một thực tế là những người trông coi nhà Thánh thường khiếm khuyết về thể chất, hoặc là ngoại hình xấu xí hoặc là thiếu khuyết một vài giác quan như nghe, nói, nhìn… có thể khi thiếu khuyết con người ta cần đến chốn thần linh để nương nhờ, tựa bám mà sinh tồn cũng có thể vì thiếu khuyết mà người ta được bù trừ những khả năng khác biệt. Cô Trinh trong truyện ngắn “Tiếng chuông đền Diềm” thiếu khuyết cả nhan sắc, ánh nhìn, giọng nói, nhưng bù lại, cô có niềm tin và sự tôn thờ tột bậc với Đức Ông và người dân làng Diềm. Với cô, việc phụng sự Đức Ông, giúp Đức Ông vỗ về che chở sự bình yên cho người dân làng Diềm là bổn phận, là thiên mệnh, là tất cả ý nghĩa đời sống của cô trên trần gian. Bởi vậy mà cô dành tất cả tình yêu thương trong sáng và trái tim tận hiến để chăm chút ngôi đền, giữ gìn bài thuốc quý gia truyền để chữa bệnh về thể chất cho dân làng Diềm, nâng niu an ủi những tâm hồn người bấy bớt giúp họ vượt qua ngang trái đời thường. Cũng bởi trái tim tinh nhạy ấy mà cô Trinh nhìn được rõ nét một vài khoảnh khắc đặc biệt của con người, khi họ tột cùng đau khổ, tột cùng trong sáng, tột cùng yêu thương. Cũng bởi trái tim thánh thiện chỉ biết yêu thương tận hiến, chỉ biết cho mà chưa bao giờ được nhận, nên Trinh không nhìn được những lừa lọc dối trá những cám dỗ ma mị của dục vọng để rồi bị cuốn vào vòng xoáy của tiếng sét ái tình. Biết mình đang bị cuốn trong dòng nước xiết của những đòi hỏi bản năng đàn bà, Trinh một lần nữa lại dựa vào Đức Ông, dựa vào trời đất núi sông và người dân làng Diềm mà vượt thoát. Trong cuộc vượt thoát ấy, Trinh nhận ra cả phần xác và phần hồn của làng Diềm cũng cần được cứu rỗi. Cô thỉnh tiếng chuông kêu cứu. Tiếng chuông đền Diềm chỉ vang lên khi làng có việc trọng. Nhưng từ khi đỉnh núi Móc có ngôi chùa lớn, tiếng chuông trên đỉnh núi vang lên hàng ngày để các đoàn khách hành hương gửi lời thỉnh cầu đến cao xanh. Tiếng chuông kêu càng nhiều, chứng tỏ khách càng đông, người làng Diềm càng có cơ hội làm giàu. Bởi vậy không còn mấy người trong làng phân biệt được tiếng chuông đền Diềm và tiếng chuông trên đỉnh núi Móc nữa. Giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc là một trong những bộ gen quan trọng làm nên hình ảnh riêng biệt của quốc gia, dân tộc trong thời đại thế giới phẳng. Song trong điều kiện mở cửa, hội nhập và phát triển hiện nay, đặc biệt, dưới tác động nhiều chiều của nền kinh tế thị trường, việc gìn giữ, phát huy giá trị văn hoá truyền thống không dễ dàng gì. Truyện ngắn “Tiếng chuông đền Diềm” là sự trăn trở về những được - mất trong quá trình vươn lên làm giàu bằng du lịch tâm linh ở một làng quê nghèo, cũng là tiếng chuông thỉnh gọi những tấm lòng biết hiểu, biết yêu, biết giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong thế giới đa diện hôm nay...(Lời bình của BTV Vân Khánh)