
Truyện ngắn pha trộn giữa yếu tố hiện thực và kì ảo về cuộc đời của bác sĩ Trần. Bác sĩ Trần là một người thành công trên sự nghiệp nhưng cuộc sống thì lại thất bại. Xét về chuyên môn thì bác sĩ Trần cũng bình thường nhưng làm việc ở một thành phố nhỏ nên ông chiếm được một vị trí quan trọng. Bác sĩ Trần kiếm được nhiều tiền thỏa mãn ham mê tiền bạc của mình. Thế nhưng một cơ ngơi khang trang với một công việc béo bở được mọi người coi trọng với bác sĩ Trần là chưa đủ. Ông thấy mình vẫn chưa kiếm được một người phụ nữ đẹp cho đời mình. Với bác sĩ Trần thì đời sống vật chất không thiếu nhưng đời sống tinh thần thì quá nghèo nàn. Tất cả những thiếu thốn về cuộc sống tinh thần, những áp lực kiếm tiền, tình cảm, công việc khiến tâm lý bác sĩ Trần bất ổn và ông trút hết bức bối vào chú lợn Bob, vật nuôi của mình. Bob trở thành bịch cát để ông ta xả Stress sau một ngày căng thẳng. Và cuối cùng bác sĩ Trần đã phải trả giá cho hành động của mình. Tác giả sử dụng những chi tiết kì ảo mang tính biểu tượng trong truyện cổ tích là hình ảnh quả táo của mụ già xấu xí. Chi tiết này khiến người đọc, người nghe nhớ ngay tới quả táo độc của mụ phù thủy trong truyện cổ tích “Công chúa và bảy chú lùn”. Hai quả táo mà bà già kì lạ trả tiền chữa bệnh cho bác sĩ Trần cũng có phép lạ. Hai quả táo sẽ khiến người ăn nó thực hiện được ước mơ của mình. Khi chú lợn Bob ăn quả táo thì phép lạ đã xảy ra, bác sĩ Trần và chú lợn Bob hoán đổi vị trí cho nhau. Truyện ngắn cuốn hút người đọc, người nghe bởi yếu tố kì ảo cũng như chi tiết bất ngờ. Lúc đầu truyện chúng ta tưởng là kể về công việc của một bác sĩ nhưng rồi dần dần xuất hiện nhiều yếu tố kì lạ. Đỉnh điểm là màn hoán đổi giữa chú lợn Bob và bác sĩ Trần. Truyện ngắn gửi tới chúng ta về sự nhân quả cũng như mối quan hệ giữa con người và các loài vật khác. Bác sĩ Trần chữa bệnh chỉ vì tiền, ông ta giận dữ khi bà lão trả tiền chữa bệnh bằng hai quả táo. Ông đối xử tệ bạc với chú lợn Bob nên phải trả giá cho hành động của mình. Bob là chú lợn nhưng cũng có thể hiện là một đối tượng khác ngoài bản thân mình. Nếu con người đối xử tồi tệ với người khác thì sớm hay muộn thì người đó sẽ phải nhận cái quả đắng mà thôi.

Câu chuyện chúng ta vừa nghe xoay quanh đời sống của một gia đình gồm 3 người (bố, mẹ và con gái) ở một vùng thung lũng khá khép kín. Từ nhiều đời qua, các thế hệ ông cha của gia đình ấy sống bằng nghề canh tác sài thục, coi cây sài thục là một điều thiêng liêng, gắn với niềm tôn kính tổ tiên. Cả gia tộc quanh năm suốt tháng trọn đời chỉ ăn những món làm từ sài thục. Nhưng cho đến thế hệ hiện tại, thì bà mẹ là người đầu tiên bày tỏ sự phản đối về việc độc canh sài thục, bất chấp sự giận dữ của ông chồng. Bà chấp nhận bị chồng đánh đập nhiều lần, nhưng dứt khoát không động vào món sài thục nữa, mà tự mình chế biến các món ăn rau dưa khác, dù rất sơ sài. Khi sự độc đoán vũ phu của người chồng lên đến đỉnh điểm thì bà đành phải bỏ nhà mà đi, nhưng không quên nhắn lại với con gái về nương rau mà bà đã trồng trong khe núi, là nguồn thực phẩm đề phòng trong trường hợp mấy mùa sài thục. Quả nhiên năm đó sài thục không thu hoạch được gì, và hai bố con chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất là nương rau và lúa mì của mẹ để lại, nếu không muốn bị chết đói. Phạm Duy Nghĩa viết: “Lần đầu tiên trong đời, bố tôi buộc phải đưa vào máu mình những chất dinh dưỡng mà ông coi là thù địch. Buổi đầu tập ăn thứ lạ, ông thấy ghê sợ và nôn ọe, rồi cũng quen và thích thú dần (…) Điều húy kị ghê gớm của gia đình tôi đã được xóa bỏ, trong một ngày như vạn ngày thường”. Điều thú vị còn ở chỗ, củ sài thục hoàn toàn là một sự vật hư cấu, nó không hề có trong đời thực, cũng tương tự như Lá diêu bông trong thơ Hoàng Cầm. Mượn một câu chuyện về sinh hoạt đời thường của một gia đình, theo chúng tôi, tác phẩm còn nhằm gửi tới những thông điệp sâu sắc khác. Đó là tất cả những sự độc đoán, độc tài rồi đến một ngày sẽ cáo chung, phải nhường chỗ cho sự dân chủ. Mỗi con người đều có quyền lên tiếng về sự tự do và quyền sống chính đáng của mình. Những cái cũ, cái lạc hậu dứt khoát phải được thay thế bằng cái mới, cái tiến bộ, nhằm phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của con người. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)

Sự sáng tạo của nhà văn trước tiên thể hiện qua việc lựa chọn nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn này. Đó là chú chó Fidel, một loài chó cảnh đặc trưng của nước Đức. Và chú chó được mô tả đúng như đặc tính vốn có: thân thiện, tình cảm và cũng rất hồn nhiên, dí dỏm trong cách cảm nhận những thay đổi trong sinh hoạt, lối sống của gia đình chủ nhân thời giãn cách xã hội. Từ chỗ vui mừng vì được làm việc và học tập ở nhà, họ đã chuyển sang những cảm xúc không lấy gì làm dễ chịu, ông bố bắt đầu bỏ bê bản thân và phát phì, cô con gái lớn bắt đầu làm những việc vô vị để giết thời gian, cậu út thì khóc lóc đòi đi học, giấy vệ sinh thì hết nhẵn. Cả gia đình và thú nuôi đều bệ rạc, dường như chỉ duy có bà mẹ là còn sinh hoạt đúng giờ giấc. Kịch tính truyện được đẩy cao qua trận cãi vã giữa ông bà chủ rồi sau đó cả nhà phải ăn đồ ăn nhanh vì không có ai chịu vào bếp. Hai tháng giãn cách xã hội đã khiến cuộc sống gia đình chủ nhân chú chó Fidel thực sự đảo lộn. Bên cạnh đó là những chuyện dở khóc dở cười như dịch vụ cho thuê chó để cư dân được đi dạo một cách hợp pháp, việc không ai dám mở những gói hàng giao đến vì sợ lây nhiễm Covid, những cuộc hẹn hò khi đi đổ rác hay tình trạng béo phì, da cớm nắng, nổi mụn do ít hoạt động và đeo khẩu trang liên tục. Chưa kể đến cái kết mở đầy bất ngờ.
Qua ngòi bút hoạt bát, dí dỏm, những câu văn ngắn, nhiều phát hiện, so sánh, liên tưởng, sắp xếp kịch tính khoa học của nhà văn, chúng ta soi thấy một phần hình ảnh, tâm trạng của bản thân qua những chuyện tưởng nhỏ nhặt, đời thường thời giãn cách xã hội do dịch bệnh (Lời bình của BTV Võ Hà)
Thời Lê trung hưng ghi đậm dấu ấn của nhiều danh nhân đỗ đạt cao, được phong nhiều chức tước quan trọng trong triều đình và để lại nhiều trước tác thơ ca có giá trị. Có thể kể đến Phùng Khắc Khoan, đỗ tiến sĩ đời vua Lê Thế Tông, trải qua nhiều chức vụ như Tả thị lang bộ công, Thượng thư bộ công, Thượng thư bộ hộ. Ông là con người có khát vọng hào kiệt, nổi tiếng là người có chí khí hào mại, có cống hiến trên nhiều phương diện như: quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn học. Phùng Khắc Khoan để lại bốn tập thơ chữ Hán có giá trị. Về sáng tác thơ Nôm thời kỳ này nổi lên tài năng của Nguyễn Văn Giai. Ông thi đỗ Tam nguyên Hoàng giáp, từng giữ chức Tể tướng, tước Thái bảo, Quận công đời vua Lê Kính Tông. Nếu làm quan nổi tiếng thanh liêm thì khi sáng tác thơ Nôm, Nguyễn Văn Giai có cái cười trào tiếu và triết lý thâm thuý về mọi sự ở đời. Tuy số lượng trước tác để lại không nhiều nhưng ông cũng cho thấy một phong cách nhà nho tài tử độc đáo.
Trong số các tác giả đoạt giải cao trong Cuộc thi thơ Báo Văn nghệ (2019-2020) có thể kể đến những người xuất thân từ bục giảng như Nguyễn Văn Song, Đinh Hạ, Châu Hoài Thanh. Trong đó, nhà thơ Nguyễn Văn Song, sinh năm 1974, giáo viên dạy Văn tại Trường THPT Phù Cừ (Hưng Yên) gây ấn tượng với chùm thơ lục bát đoạt giải B. Bên cạnh những bài thơ viết về tình mẹ, tình quê, thơ Nguyễn Văn Song còn chạm đến những nỗi niềm của đời sống hôm nay. Cảm xúc ấm nóng trong những vần thơ của anh.

Truyện ngắn là những mảnh kí ức lẫn lộn đan xen giữa những cơn đau đẻ của cô gái Dịu. Chiến tranh đã kết thúc nhưng nỗi đau chiến tranh vẫn còn đó trong cuộc đời Dịu. Cha Dịu tham gia chiến trường chống Mỹ và bị nhiễm chất độc da cam. Di chứng đến đời thứ 3 mới thấy khi đứa bé trong bụng Dịu bị dị tật. Ngay từ những ngày ấu thơ, những cơn điên dại vì vết thương chiến tranh của cha đã ám ảnh Dịu. Và giờ đây khi cô mang thai thì nỗi đau đó càng đau nhức. Với giọng văn góc cạnh, dữ dội bởi hình ảnh đan xen quá khứ, thực tại, tác giả thế hiện nỗi đau đớn cả tinh thần và thể xác của nhân vật Dịu. Cô phải đấu tranh nội tâm ghê gớm giữa việc giữ lại hay bỏ cái thai đi. Mang thai, sinh con là thiên chức và cũng là niềm hạnh phúc của mỗi người phụ nữ. Mỗi sinh linh khi được thai nghén đều có quyền được sống, được cuộc đời chào đón. Tuy sợ hãi nhưng cuối cùng tình yêu mãnh liệt của người mẹ khiến Dịu quyết định sẽ giữ đứa con lại. Một quyết định dũng cảm bởi một tương lai không biết như thế nào đang đón đợi cô phía trước. Truyện ngắn viết về cơn trở dạ của một người phụ nữ nhưng thể hiện nỗi đau của chiến tranh với những người lính và gia đình của họ. Chiến tranh đã kết thúc, đất nước đã hòa bình nhưng đâu đó trên đất nước vẫn còn người hi sinh, thương tật vì bom đạn trong lòng đất. Vẫn còn biết bao tiếng khóc, nỗi đau khóc như cô gái Dịu khi chịu di chứng da cam ác độc. Không khí truyện ngắn khá u ám, ảm đạm với nhiều hình ảnh, cảm xúc tiêu cực. Nhưng phần cuối truyện với tiếng khóc chào đời của đứa bé có lẽ là tia sáng thắp lên một tương lai (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)
Với độ dài dài 340 liên (tức 640 câu), truyện thơ Nôm “Sãi vãi” được viết vào năm Canh Ngọ (1750), khi Nguyễn Cư Trinh bắt đầu nhậm chức Tuần vũ Quảng Ngãi. Thông qua cuộc đối thoại giữa hai nhân vật ông sãi và bà vãi nơi cửa Chùa, tác phẩm khuyên răn quan quân, động viên binh sĩ, phủ dụ dân miền Thượng, một cách văn trị của vị Tuần vũ mới. Cũng qua “Sãi vãi”, danh tướng Nguyễn Cư Trinh cho thấy cái nhìn đối với Phật giáo, đồng thời đề cao Nho giáo, châm biếm tà đạo, răn giới tầng lớp Nho sĩ về đạo lý “tu, tề, trị, bình” trong hoàn cảnh chế độ phong kiến ở Đàng trong đã suy vi, mục nát
Nhắc đến Hồng Thanh Quang là nhắc đến một gương mặt nhà thơ – nhà báo nổi bật trong làng báo phía Bắc suốt hai thập niên qua. Anh đã thực hiện hàng trăm bài phỏng vấn chân dung nhân vật đặc sắc, viết nhiều bài bình luận chính trị sắc sảo và đã in thành sách, là người dẫn nhiều chương trình truyền hình được đông đảo khán giả cả nước theo dõi như Câu lạc bộ Bạn yêu thơ, Giai điệu tự hào. Nhưng sau hết, công chúng vẫn nhớ đến anh nhiều nhất với tư cách một nhà thơ. Chương trình Đôi bạn văn chương lần này xin dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Hồng Thanh Quang với tên gọi: Hồng Thanh Quang - Người đàn ông mùa thu

Có những truyện ngắn, dẫu làm ta thích thú từ dòng đầu tiên, nhưng lại rất khó để cắt nghĩa, lí giải. Dường như sau sự say mê ban đầu, người đọc vẫn chưa có độ lùi cần thiết để lí tính có thể phân tích một cách rành mạch tác giả đã dùng kĩ thuật viết nào, “dàn binh bố trận” những chi tiết gì để có được hiệu quả này. “Áo choàng của Chúa” là một truyện ngắn gây tò mò ngay từ nhan đề. Độc giả có thể ngay lập tức liên tưởng đến câu chuyện về những bí tích tôn giáo. Tuy nhiên, tác giả Đinh Phương lại mở ra một câu chuyện dường như không liên quan: số phận của một người đàn bà lưu lạc. Mất tích từ khi còn trẻ, bác của nhân vật “tôi” đột ngột trở về thị trấn, khiến nhịp sống bình thường trở nên xáo trộn. Những mảnh kí ức lộn xộn, chập chờn – một thứ kí ức không đáng tin của một người sống mà như đã chết khiến người đọc buộc phải kiên nhẫn lắp ghép: đây là con tàu di cư năm 54, đây là nơi lần đầu vợ chồng người bác gặp gỡ, đây là vị giám mục người Huế đã đột ngột biến mất như chưa từng tồn tại… Dường như không thể phân biệt hư thực. Mọi thứ cứ đan xen vào nhau, tạo thành một màn sương mù, khiến người đọc càng đi sâu càng hoang mang, càng mơ hồ. Phải chăng chính lúc ấy, ta cũng cầu mong nhìn thấy tấm áo choàng của Chúa – như một cứu chuộc cho thứ tội lỗi mà mình đang gánh trên vai...(Lời bình của BTV Nguyễn Hà)

Truyện ngắn “Mùa hoa dã quỳ” của nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến lấy bối cảnh từ những trận lũ lịch sử, gây nhiều thiệt hại lớn về người và của xảy ra ở các tỉnh miền Trung vào năm ngoái. Ở đây, tác giả đã dựng lên hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân về cắm bản, giúp dân xây dựng đời sống mới, giữ gìn trật tự trị an nơi vùng biên cương có đông đồng bào các dân tộc sinh sống. Ở đó, người công an trẻ phải đối diện với những khó khăn trong ứng xử, đòi hỏi phải khéo léo trong phương pháp công tác mới có thể thu phục được lòng tin của nhân dân. Thành là chiến sĩ công an ngay từ khi được điều chuyển về làm Trưởng công an xã, đã thể hiện phẩm chất cao quý của người chiến sĩ công an nhân dân, sống tình cảm, gần gũi, luôn sẵn lòng giúp đỡ nhân dân nơi địa bàn đóng quân. Trận lũ ống, lũ quét có một không hai bất thần ập đến, đã vùi lấp tất cả nhà cửa ở bản A Bưng. Trong trận lũ ấy, Thành đã bất chấp mọi hiểm nguy, lao ra giữa dòng nước chảy xiết để cứu sống vợ và ba đứa con của Hồ Mân, đang cận kề với cái chết, trong khi Hồ Mân vắng nhà. Sau đó, Thành bị dòng nước cuốn trôi khi tiếp tục ứng cứu những người dân trong bản bị mất tích. Sự hy sinh của Thành đã khiến mọi người dân trong bản xúc động, thức tỉnh và cảm hóa những người như Hồ Mân, nhắc nhở anh ta phải biết sống, làm ăn chân chính ngay chính trên quê hương mình. Qua truyện ngắn “Mùa hoa dã quỳ”, tác giả ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người công an, sống và làm việc hết lòng vì dân, khi cần thì sẵn sàng hy sinh cả tuổi xuân của mình vì cuộc sống bình yên của nhân dân. Thành đã sống đúng như những gì anh đã nói: “Dã quỳ là loài hoa hoang dã, nhưng màu sắc của nó là màu của hạnh phúc, nó sẽ đem lại điều may mắn và tốt đẹp cho mọi người”. Thiết nghĩ, loài hoa tràn đầy sức sống mãnh liệt này còn là biểu tượng cho tình yêu chung thủy, tỏ ý kiêu hãnh, kiên cường không bao giờ chịu khuất phục./.
Dòng thơ Nôm của dân tộc ta đã ghi nhận nhiều tác giả tên tuổi vốn xuất thân khoa cử, ra làm quan, có những công trạng lớn lao trong kế sách củng cố vị thế của các triều đại phong kiến. Danh tướng Nguyễn Cư Trinh là một trong số đó. Chương trình “Tìm trong kho báu” hôm nay tìm về với dấu ấn cuộc đời và sáng tác của vị tướng trấn giữ biên cương từng góp phần to lớn trong công cuộc Nam tiến của các Chúa Nguyễn.
Dòng thơ Nôm của dân tộc ta đã ghi nhận nhiều tác giả tên tuổi vốn xuất thân khoa cử, ra làm quan, có những công trạng lớn lao trong kế sách củng cố vị thế của các triều đại phong kiến. Danh tướng Nguyễn Cư Trinh là một trong số đó. Chương trình “Tìm trong kho báu” hôm nay tìm về với dấu ấn cuộc đời và sáng tác của vị tướng trấn giữ biên cương từng góp phần to lớn trong công cuộc Nam tiến của các Chúa Nguyễn.

Thoạt nghe nhan đề và qua 2/3 chặng truyện ngắn “Báo thù”, người đọc, người nghe vẫn ngỡ rằng con đại bàng chồng – chúa tể của bầu trời sẽ dùng chính sức mạnh của nó để dạy cho người thợ săn một bài học – Một bài học đích đáng vì đã sát hại bạn đời của nó. Thế nhưng kết cục thực sự của câu chuyện thực sự không chỉ gây bất ngờ mà còn khiến chúng ta lặng người. Sau hành động quắp xác bạn đời lên mỏm núi cao, con đại bàng chồng dường như đã hóa đá, nói đúng hơn là nó đã chết trong tư thế vẫn đậu trên mỏm núi, đôi cánh phủ trùm lên xác con đại bàng cái – Một sự tuẫn tiết vì nghĩa thủy chung trước nỗi đau khôn nguôi. Sự hoang mang của người thợ săn những ngày khi chưa nhận ra sự thật ấy vẫn chưa là gì so với nỗi ám ảnh dày vò sau quãng thời gian dài sau đó, khi đã từ sa mạc trở về với gia đình. Anh đã phải nếm trải cảm giác sợ hãi khi thức giấc giữa đêm và linh cảm về sự an nguy của vợ con. Hơn bao giờ hết, lúc này, người thợ săn mới thấm thía nỗi đau của con đại bàng chồng khi con đại bàng vợ bị nòng súng của anh sát hại một năm về trước. Anh đã kịp dừng lại tránh tiếp tục gây nên thảm cảnh, cũng là để sám hối, giải tỏa phần nào cảm giác tội lỗi dày vò. Thói đời vẫn vậy. Loài đại bàng đã chọn sải cánh ở sa mạc, núi cao những nơi vắng bóng loài người nhưng cuối cùng vẫn bị con người truy lùng, tận diệt. Nếu không phải trả giá, không chịu đựng những mất mát, nỗi đau thống thiết, không biết đến khi nào những ngón tay bóp cò súng săn mới chịu chùn lại. Cho tới trước khi bị tước đoạt mất những người thân yêu nhất, con người dường như vẫn chưa thấu hiểu được cảm giác chia lìa đồng loại của loài vật. Dịch giả đã chuyển tải được chiều sâu xót xa của câu chuyện “Báo thù” dưới ngòi bút của một nhà văn Xô Viết đắm mình trong thổn thức của thiên nhiên. (Lời bình của BTV Võ Hà)

Thoạt nghe nhan đề và qua 2/3 chặng truyện ngắn “Báo thù”, người đọc, người nghe vẫn ngỡ rằng con đại bàng chồng – chúa tể của bầu trời sẽ dùng chính sức mạnh của nó để dạy cho người thợ săn một bài học – Một bài học đích đáng vì đã sát hại bạn đời của nó. Thế nhưng kết cục thực sự của câu chuyện thực sự không chỉ gây bất ngờ mà còn khiến chúng ta lặng người. Sau hành động quắp xác bạn đời lên mỏm núi cao, con đại bàng chồng dường như đã hóa đá, nói đúng hơn là nó đã chết trong tư thế vẫn đậu trên mỏm núi, đôi cánh phủ trùm lên xác con đại bàng cái – Một sự tuẫn tiết vì nghĩa thủy chung trước nỗi đau khôn nguôi. Sự hoang mang của người thợ săn những ngày khi chưa nhận ra sự thật ấy vẫn chưa là gì so với nỗi ám ảnh dày vò sau quãng thời gian dài sau đó, khi đã từ sa mạc trở về với gia đình. Anh đã phải nếm trải cảm giác sợ hãi khi thức giấc giữa đêm và linh cảm về sự an nguy của vợ con. Hơn bao giờ hết, lúc này, người thợ săn mới thấm thía nỗi đau của con đại bàng chồng khi con đại bàng vợ bị nòng súng của anh sát hại một năm về trước. Anh đã kịp dừng lại tránh tiếp tục gây nên thảm cảnh, cũng là để sám hối, giải tỏa phần nào cảm giác tội lỗi dày vò. Thói đời vẫn vậy. Loài đại bàng đã chọn sải cánh ở sa mạc, núi cao những nơi vắng bóng loài người nhưng cuối cùng vẫn bị con người truy lùng, tận diệt. Nếu không phải trả giá, không chịu đựng những mất mát, nỗi đau thống thiết, không biết đến khi nào những ngón tay bóp cò súng săn mới chịu chùn lại. Cho tới trước khi bị tước đoạt mất những người thân yêu nhất, con người dường như vẫn chưa thấu hiểu được cảm giác chia lìa đồng loại của loài vật. Dịch giả đã chuyển tải được chiều sâu xót xa của câu chuyện “Báo thù” dưới ngòi bút của một nhà văn Xô Viết đắm mình trong thổn thức của thiên nhiên. (Lời bình của BTV Võ Hà)