Với những cống hiến cho dòng thơ Nôm của dân tộc, thơ Tú Xương đi sâu vào đời sống, được dân gian ưa chuộng đã đành, từ đầu thế kỷ 20 đã được giới trí thức tinh hoa tìm đọc và biểu dương. Đọc thơ Tú Xương, nhà thơ Xuân Diệu có lời bình :“Ông Nghè, ông Thám vô mây khói/ Đứng lại văn chương một Tú tài”. Trong Tiểu luận “Thời và thơ Tú Xương”, nhà văn Nguyễn Tuân xưng tụng “Tú Xương, một người thơ, một nhà thơ vốn có nhiều công đức trong trường kỳ xây dựng lâu đài ngôn ngữ Việt Nam”...

Quá khứ và hiện tại bối cảnh “Đồng cỏ” của tác giả Vân Hạ khiến ta liên tưởng tới bài thơ “Sông Lấp” của nhà thơ Trần Tế Xương với những câu: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Vương quốc đầm lầy tuổi thơ chỉ còn là ảo ảnh, là kỷ niệm. Nhưng cũng như đoạn sông Vị Hoàng chảy qua quê hương cụ Tú Thành Nam, dẫu đã bị bồi lấp thành đất thổ cư nhưng tiếng vọng từ thuở nguyên sơ mãi còn thao thiết trong tâm tưởng của những chứng nhân còn lại. Cảnh hoang vu, những ngày tuổi thơ háo hức khởi nghiệp dấm ốc, sa lầy và cuộc chạy trốn của đàn ốc bắt được trên đầm lầy đồng cỏ - Những kỷ niệm tưởng nhỏ nhoi, vụn vặt nhưng đã trở thành một phần đời không thể nào quên. Dẫu “Đồng cỏ” tĩnh lặng kỳ bí đã thành “Làng Mới” sôi động, với quang cảnh nửa quê nửa phố, những bạn bè ngu ngơ thuở bé giờ ra sức làm kinh tế tinh nhanh nhưng vẫn còn đó những kỷ niệm thời vụng dại luôn phập phồng trong trí nhớ, thời gian chẳng thể san bằng. Tác giả Vân Hạ đã viết về những thương yêu nhắc nhủ ấy bằng một ngòi bút bản lĩnh, chân thành. Những câu văn giàu hình ảnh trải trên trang giấy các sắc màu, khung cảnh và tính cách, hành động con người tự nhiên, sinh động. Xen vào đó là những so sánh, liên tưởng, triết lý về thiên nhiên, về cuộc sống - Có những đoạn, truyện ngắn “Đồng cỏ” của tác giả Vân Hạ như đã hòa cùng nhịp đập thổn thức của trái tim người đọc, người nghe…(Lời bình của BTV Võ Hà)
Giọng đọc PTV Hải Yến vừa chuyển tới các bạn phần đầu truyện ngắn “Đồng cỏ” của nhà văn Vân Hạ. Đây là sáng tác tham dự cuộc thi viết truyện ngắn “Làng Việt thời hội nhập” do do các đơn vị: báo Nông thôn Ngày nay, báo điện tử Dân Việt, Hội Nhà văn Việt Nam và Ban Văn học Nghệ thuật VOV6 - Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức.
Giọng văn tả chân chi tiết, mộc mạc cho thấy tác giả là người đã thực sự trải qua cuộc sống nông thôn ngày xưa. Có lẽ nhiều độc giả, thính giả xuất thân từ làng quê cũng đã được gặp lại một phần hình ảnh tuổi thơ mò cua bắt ốc lùi lấm nhưng cũng rất đỗi thân thương, đáng nhớ. Chúng ta cùng theo dõi phần tiếp theo truyện ngắn “Đồng cỏ” của nhà văn Vân Hạ vào buổi Đọc truyện đêm mai (Lời bình của BTV Võ Hà)
Trong tâm tưởng của người dân nước Ý, nhà thơ Dante có những đóng góp lớn cho nền văn học. Nếu như ở nước ta, “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du được coi là kiệt tác văn học dân tộc thì ở nước Ý, tác phẩm “Thần khúc” của Dante được ví như là tập thơ quan trọng nhất của thời kỳ Trung Cổ và là tác phẩm văn học vĩ đại nhất bằng tiếng Ý...(Tiếng thơ 29/05/2021)

Thoạt nghe tên truyện “Hương bưởi ổi” hẳn các bạn cũng như tôi có đôi chút băn khoăn tự hỏi, hương bưởi là hương bưởi chứ sao lại lẫn lộn cả hương bưởi và hương ổi. Hóa ra bưởi ổi là một giống bưởi nổi tiếng ở miền Đông Nam bộ. Và câu chuyện về người dân Đồng Nai tìm giống cây chuyên canh cho vùng đất này được lồng vào câu chuyện tình yêu thật hấp dẫn. Mối tình thanh mai trúc mã giữa Điền-nhân vật kể chuyện và Vy Thúy tưởng sẽ êm đẹp và dịu ngọt như hương bưởi ổi quê nhà của Vy Thúy, nhưng cuối cùng lại đổ vỡ, bởi chuyện thừa kế, chia chác đất đai; bởi tính bảo thủ vốn đã ăn sâu vào nếp ăn nếp nghĩ của người dân quê bấy nay. Điền đã đứng về gia đình anh Hai vô tình làm mất lòng ông Bảy-bố của Vy Thúy. Mặc dù bị ông Bảy ngăn cấm, nhưng Điền và Thúy vẫn âm thầm đến với nhau. Song, Điền chờ ông Bảy nguôi ngoai cũng thất bại như việc làng anh trồng giống bưởi ổi được lấy từ làng của Vy Thúy. Nhưng rồi, nhờ sự kiên nhẫn và áp dụng khoa học kỹ thuật đúng đắn, anh Hai và gia đình Điền đã thành công với giống bưởi mới. Và bước đầu anh cũng đã tìm thấy tình yêu mới cho mình. Nhưng mối tình này liệu có đơm hoa kết trái, có nảy nở như giống bưởi mới còn phải chờ thời gian trả lời. Bởi, cái mới thay thế cái cũ lâu năm không bao giờ là dễ, nó giống như việc đi tìm giống cây chuyên canh cho một vùng đất như làng bưởi quê Điền cũng gặp trúc trắc, phải trả giá không ít và qua nhiều năm thử thách. Tin rằng, càng khó khăn thì thành công càng có ý nghĩa. (Lời bình của BTV Vũ Hà)

Truyện cuốn hút người đọc người nghe ngay từ những dòng, những trang đầu tiên. Nó như một cuốn phim quay chậm, trong đó nhân vật chính là Thịnh-một quân nhân vừa xuất ngũ trở về quê hương. Mới ba năm thôi, nhưng bãi bồi ven sông không còn nữa. Bước chân Thịnh đi tới đâu kỷ niệm xưa lại ùa về đến đó. Nào là tiếng cười của những đứa trẻ thôn quê chiều hè gửi ước mơ theo cánh diều lên trời cao; nào là những kỷ niệm thuở ấu thơ cậu bé Thịnh cày cuốc trên cánh đồng bãi; rồi những kỷ niệm vui đùa của chàng thanh niên Thịnh cùng cô bạn gái tên Chi…Và tác giả không cần miêu tả nhiều, người đọc người nghe cũng đoán ra được nguyên nhân bị mất cánh bãi, đó là do việc hút cát-một vấn đề nóng bỏng trong đời sống hiện nay. Việc hút cát làm sạt lở bãi bồi khiến người dân mất đất canh tác, mất việc làm; trẻ em mất không gian thả diều; làm sụp đổ ngôi quán…đã là chuyện quá sức chịu đựng, nhưng điều khủng khiếp hơn là việc ngôi miếu cổ sắp sụp đổ. Người đọc người nghe lo sợ nếu điều này xảy ra, thì mọi mâu thuẫn sẽ bị đẩy lên đến đâu. Nhưng rồi, nhờ kinh nghiệm của Thịnh cùng sự đồng lòng giúp sức của bà con lối xóm mà ngôi miếu được cứu. Truyện kết thúc với cảnh Thịnh đi trên cánh bãi đỏ au màu đất phù sa đang chờ lên luống, bầu trời lộng gió đẩy cánh diều bay cao trong tiếng sáo vi vu. Cánh diều tiếp tục bay điều đó có nghĩa ước mơ của trẻ em tiếp tục được thả lên trời xanh, văn hóa truyền thống được gìn giữ, tiếp nối...(Lời bình của BTV Nguyễn Vũ Hà)
Cùng với Nguyễn Khuyến, Tú Xương là tên tuổi sáng giá nhất trong dòng thơ Nôm trào phúng. Thế nhưng rõ ràng mỗi nhà thơ để lại những dư vị khác nhau trong sáng tác. Trong khi cụ Tam Nguyên Yên Đổ chủ trương lối thơ châm biếm nhẹ nhàng, thâm thúy đầy ngụ ý thì thơ Nôm cụ Tú Thành Nam bật lên tiếng cười chua cay, dữ dội.
Mỗi nhà thơ đều có cách riêng để giãi bày tình yêu quê hương, đất nước. Để theo đuổi một hình tượng để khắc họa một cách tầm vóc và xuyên suốt một hành trình của đất nước đi liền với nhiều suy tư, trăn trở. Từ hình tượng “Gió”, nhà thơ Phan Hoàng đã viết nên cả một Trường ca và nhiều bài thơ khắc khoải. Anh chia sẻ với BTV chương trình về hình tượng độc đáo và mãnh liệt ấy trong sáng tác của mình.

Sự đổi thay chóng mặt của nhiều làng quê đã cho thấy sức hút, sức phủ sóng tốc độ của các tiện nghi và lối sống hiện đại. Thế nhưng vẫn có những người nông dân “ngược pha” khỏi làn sóng đồng đều đó. Họ vẫn sống một cuộc đời với những thói quen, công việc thời quá khứ, trong khi thôn xóm đã khác xưa. Họ không hiểu vì sao bản thân trở nên kỳ cục khi chẳng làm gì nên tội, khi chẳng thể nào xoay chuyển, hòa mình hội nhập cái đời sống mới đầy kỳ thú mà cộng đồng, những người thân đang tận hưởng. Bỗng dưng họ trở thành kẻ quê kệch, mặc cảm, lủi thủi với những niềm riêng khó tỏ. Người nông dân “lành như đất” trong truyện ngắn “Nắng ở cuối cùng sông” của Hoàng Anh Linh rơi vào trạng thái lạc lõng ấy. Nhưng ông còn có hi vọng để mà mong đợi. Đó là người em trai trí thức vẫn còn nhớ đến người anh lam lũ ở quê nghèo. Ký ức và hiện tại đan xen trong mớ bòng bong tâm trạng của người nông dân có lúc đã gắng gỏi để theo kịp xu thế, thời đại nhưng chỉ nhận lại sự ê chề, kiệt quệ. Điểm sáng trong câu chuyện là dù còn đó những khúc mắc, khoảng cách về lối sống, lối suy nghĩ nhưng tình thân vẫn là điều còn lại. Chính tình thân đã gắn kết hai con người cùng dòng máu, dẫu dòng đời xô dạt – Như ánh nắng cuối chiều lấp lánh cả dòng sông. Tập trung khắc họa niềm thương yêu khôn tả ấy, tác giả Hoàng Anh Linh dường như đã bỏ qua phần nào những mối quan hệ chằng chéo cần có trong cuộc đời cá nhân hai nhân vật chính. Thành ra truyện chỉ dừng lại ở lát cắt đặc tả - Người đọc, người nghe vẫn còn mong đợi những nhân vật, tình huống xúc tác sinh động cho một hình hài truyện ngắn hoàn chỉnh. (Lời bình của BTV Võ Hà)

Bắt nguồn từ một thói quen đã thành chung thủy hơn nửa đời người, “Tắm Tết” mở ra khung cảnh tâm hồn thành tâm, chân quê và cũng rất đỗi dịu dàng, nữ tính của nhân vật “Dứa” – Người phụ nữ quá lứa lỡ thì tưởng đã trở nên thô ráp, dạn dày, chai sạn giữa dòng đời. Vì tình duyên lở dở, vì bộn bề mưu sinh, là người gắn bó với quê đến tận cùng gan ruột, chị cũng đành dằn lòng nhớ thương gửi lại – Và gợi nhớ về gốc gác bản xứ mỗi năm một lần trong cuộc tẩy trần tiễn năm cũ, đón năm mới. Nhà văn Nguyễn Hiệp đã kỳ công cả về mặt câu từ lẫn cảm xúc khi kể lại cặn kẽ màn gột rửa vừa trần tục vừa thanh sạch, thiêng liêng ấy. Đó là khi con người rũ bỏ hết tất thảy những ngổn ngang giăng mắc để hoàn toàn thả lỏng tận hưởng một mùi hương xưa cũ thấm dần vào trong từng tế bào sự sống. Với người phụ nữ đã nếm trải cả hạnh phúc lẫn tột cùng khổ đau của tình yêu như nhân vật “Dứa” – “Tắm Tết” có lẽ là những giờ khắc thảnh thơi, đẹp đẽ, hiếm hoi trong cả một năm dài không bờ không bến. Chị được mường tượng lại hình bóng của má, của người thương một thời – Những ký ức xa xôi, chạm vào là rạo rực và cả nhói đau – Giờ khắc ấy hết thảy được thứ tha. Sống dậy cảm xúc với quê nhà qua một mùi hương, một thói quen đã thành nghi lễ cá nhân, giá như xen kẽ vào đó câu chuyện hay khúc ngoặt về đoạn đời hiện tại của nhân vật, và kết lại vẫn bằng cuộc “Tắm Tết” thường niên – Có lẽ truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Hiệp sẽ vượt qua giới hạn tản mạn, trưởng thành hơn trong vóc dạc một truyện ngắn dày dặn cảm xúc. (Loi binh cua BTV Vo Ha)
Buổi “Tìm trong kho báu” hôm nay, chúng ta cùng tiếp tục lần giở các sáng tác thơ Nôm của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Trước tiên là những vần thơ Quốc âm lấy cảm hứng từ kiệt tác “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du. Xung quanh câu chuyện cụ Tam Nguyên Yên Đổ được mời làm chánh chủ khảo cuộc thi vịnh Kiều cũng là nguyên cớ để cụ thể hiện khí chất và tài năng. Những sáng tác thơ Nôm tiêu biểu làm đậm thêm một phong cách trào phúng bậc thầy trong nền thơ ca dân tộc.
Nhà thơ Đồng Đức Bốn cho tới khi qua đời đã xuất bản 6 tập thơ. Nếu như ở tập đầu tay, Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992), thơ Đồng Đức Bốn còn chưa gây được nhiều sự chú ý thì ngay trong tập thơ xuất bản 1 năm sau đó, Chăn trâu đốt lửa (1993), ông đã chinh phục được đông đảo độc giả bằng giọng điệu rất riêng của mình, đồng thời xác lập sở trường của bản thân là thể thơ lục bát. Các tập thơ xuất bản trong những năm sau đó lần lượt là: Trở về với mẹ ta thôi (2000), Cuối cùng vẫn còn dòng sông (2000), Chuông chùa kêu trong mưa (2002) và tập thơ cuối cùng dày hơn nghìn trang như một hợp tuyển tổng kết cả đời thơ của Đồng Đức Bốn: Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006). Năm nay, vừa tròn 15 năm kể từ khi ông qua đời, Đôi bạn văn chương dành một chương trình trò chuyện để tưởng nhớ con người và tác phẩm của ông.

Các bạn thân mến, phải gần gũi với người nông dân chân lấm, tay bùn, đồng hành cùng người nông dân trên mảnh ruộng, vườn cây, ao cá thì tác giả Nguyễn Quang Trung mới viết được truyện ngắn chân thật đến như vậy. Tráng là anh thanh niên khỏe mạnh nhưng học chưa hết lớp 9 nên chỉ biết bán sức lao động của mình kiếm miếng cơm manh áo. Gia đình ít ruộng nên phải đi làm đụng, tức đụng việc gì ai mướn là làm việc đó. Tráng từng lên thành phố làm thuê nhưng không khí đô thị ngột ngạt khiên anh không quen nên lại trở về quê làm việc. Sau mấy năm xuất khẩu lao động ở Đài Loan, Tráng trở lại quê nhà lập nghiệp. Với sự giúp đỡ của cô kỹ sư tên Kim, sau này là vợ của Tráng, anh đã xây dựng một trang trại khang trang. Để có được thành công như vậy có lẽ nhân vật Tráng cũng gặp không ít may mắn. May mắn khi mấy năm xuất khẩu lao động còn dành dụm được tiền tỉ mang về lập nghiệp, may mắn là gặp được cô kĩ sư Kim, người ngoài lạnh trong nóng. Thương anh chàng nông dân chất phác, thật thà, Kim lặn lội từ thành phố về quê để giúp Tráng thành lập trang trại. Trang trại gây dựng thành công cũng là lúc tình duyên của Tráng và Kim đơm hoa kết trái. Nhân vật Tĩnh là người kể câu chuyện đã chứng kiến những đổi thay cuộc đời Tráng và vui mừng cho bạn của mình. Quá trình gây dựng trang trại của nhân vật Tráng được tác giả miêu tả rất kĩ, cẩn thận, giàu hình ảnh. Người nông dân đẹp nhất chính là lúc họ chăm chỉ lao động trên mảnh ruộng, vườn cây của mình. Sức lực, sự chăm chỉ kết hợp với kĩ thuật tốt đã giúp người nông dân làm giàu trên mảnh đất quê hương. Truyện ngắn cũng giúp người đọc, người nghe hiểu hơn nếp sống, phong tục, tập quán, tính cách con người một vùng quê trên đất nước Việt Nam. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Truyện ngắn được viết với giọng văn mộc mạc, chân chất đúng phong vị người nông dân Nam Bộ. Câu chuyện buồn vui nhiều cảm xúc của người phụ nữ tên Sáu Cam gắn bó với mảnh vườn của mình. Mở đầu truyện ngắn là câu hỏi “bán hay không bán”. Câu hỏi trong lòng nhân vật Sáu Cam có lẽ cũng là nỗi băn khoăn của không ít người nông dân trước đổi thay của cuộc sống. Trong hoàn cảnh lao động vất vả chăm bón cả năm mà lại gặp điệp khúc “được mùa mất giá” thì không ít người đã đã bán mảnh vườn cha ông để lại hoặc nhiều năm gây dựng để thay đổi cuộc đời. Nhưng bà Sáu Cam đã không làm như vậy. Dù mọi người đều khuyên nên bán khu vườn đi, làm thuê, làm mướn, buôn bán cho đỡ cực nhưng bà vẫn giữ khu vườn của mình. Trải qua mấy năm cơ cực khi trái cây mất giá thì bà Sáu Cam cũng thu hoạch hoa thơm trái ngọt. Bà Sáu Cam không còn bán hoa quả cho thương lái mà thực hiện mô hình kinh doanh vườn cây ăn trái theo kiểu “bán bụng”. Việc thay đổi phương thức kinh doanh giúp vườn cây của bà mang lại lợi ích kinh thế gấp nhiều lần. Vườn cây của bà trở thành địa điểm dụ lịch, vui chơi nghỉ ngơi của rất đông khách. Ước mơ có một căn nhà mới của bà Sáu Cam đã trở thành hiện thực. Lồng ghép trong câu chuyện giữ đất, giữ vườn của nhân vật bà Sáu Cam, chúng ta thấy cuộc sống của người nông dân Nam Bộ trước tác động kinh tế thị trường. Nhiều người nông dân bán mảnh vườn, mảnh ruộng nhiều năm gắn bó thay đổi nghề, thanh niên cũng không làm ruộng, làm vườn mà làm công nhân trong các khu công nghiệp. Vườn cây ăn trái cũng thay đổi phương thức kinh doanh sao cho hiệu quả. Nhiều đổi thay đã diễn ra nhưng có lẽ tình người, tình đời của những con người chất phác thì luôn được lưu giữ. Tình cảm hàng xóm láng giềng giữa Bà Sáu Cam với ông Tư Bận hay tình cảm mẹ con của nhân vật Sáu Cam tuy được miêu tả giản dị nhưng ấm áp tình thân. Nhân vật tuy chỉ là người nông dân lam lũ nhưng tốt bụng, trọng tình trọng nghĩa thật đáng mến. Truyện ngắn giúp người đọc, người nghe hiểu được phần nào những đổi thay của làng quê Việt Nam thời hội nhập kinh tế thị trường. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)