
Truyện ngắn đưa chúng ta trở lại vùng đất Đồng Tháp trong những năm chiến tranh ác liệt. Sau Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 đất nước ta tạm thời chia làm hai miền Nam và Bắc từ vĩ tuyến 17. Người dân mong chờ tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, sống trong hòa bình hạnh phúc. Nhưng rồi thực dân Pháp lật lọng, đế quốc Mỹ nhảy vào Miền Nam, cuộc chiến kéo dài tới tận năm 1975. Trong suốt quãng thời gian hơn 20 năm chiến tranh biết bao gia đình đã phải ly tán, bị cuốn vào dòng lũ chiến tranh. Nhân vật Hai Được chính là một người như vậy. Là người dân mảnh đất Đồng Tháp, anh không muốn đi lính mà chỉ muốn là người dân bình thường nhưng chế độ Ngụy quyền bắt lính ác quá, Hai Được phải trốn chui trốn lủi. Trong thời gian trốn lính, Hai Được vô tình cứu được cô gái trẻ và hai người nên duyên chồng vợ. Cuộc sống hạnh phúc ngắn ngủi rồi hai người lại phải xa cách nhau. Hai Được trở thành chiến sĩ tiểu đoàn 308 Giải phóng Quân còn vợ con ở lại quê nhà. Cuộc chiến cuốn người lính trẻ hết mặt trận này đến mặt trận khác, các sự kiện tiếp nối nhau khiến anh và vợ con mất tin tức. Tới tận cuối năm 1975 khi đất nước đã thống nhất, hai vợ chồng Hai Được lúc này tên là Huỳnh Tiến Công mới mừng mừng tủi tủi tìm được nhau. Với giọng văn trần thuật, truyện ngắn là miền kí ức với biết bao buồn vui về cuộc đời một con người trong chiến tranh. Những rung động đầu đời của chàng trai trẻ Hai Được mới thoảng qua nhẹ nhàng, niềm hạnh phúc lứa đôi ngắn ngủi rồi anh bước vào cuộc chiến. Suốt mấy chục năm vì nhiệm vụ của người lính mà anh chỉ dám gửi tình cảm gia đình trong trái tim của mình. Đồng đội hi sinh, đứa con nhỏ trưởng thành trở thành một người lính cũng ra đi ngay trước ngày chiến thắng. Những mất mát hi sinh thầm lặng của một người lính hòa chung sự hi sinh của biết bao gia đình, của cả một dân tộc cho ngày thống nhất, độc lập, hòa bình. Chi tiết nhân vật Hai Được chiến đấu cùng con hai cùng một chiến hào suốt 2 năm mà hai cha con không biết nhau khiến chúng ta không khỏi thổn thức. Đó là điểm nhấn của truyện ngắn và không hiếm gặp trong chiến tranh khi mà cha con, anh em, người thân rất gần nhau nhưng số phận lại không cho gặp nhau. Đan xen những cảm xúc buồn của chiến tranh là tình cảm vợ chồng thủy chung, tình đồng đội, tình nghĩa xóm làng ấm áp. Truyện ngắn đi vào số phận, vui buồn của một người lính để người đọc, người nghe hiểu những mất mát hi sinh của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến giải phóng đất nước. Từ đó bạn đọc trân trọng công ơn của cha anh để có cuộc sống hạnh phúc hôm nay.

Khi nghe truyện ngắn “Bên dòng sông Xuân” có vị thính giả nào cảm nhận rằng nét văn trong tác phẩm đậm đà mà mộc mạc hương vị sông nước miệt vườn, chảy trôi nét lãng đãng như dòng chảy sông Tiền, sông Hậu rồi nhấn nhá chút man mác buồn, nhưng cũng không kém phần lãng mạn, dạt dào cảm xúc? Ấy chính là văn phong quen thuộc của tác giả Hoàng Khánh Duy và là phong cách văn chương mà anh muốn xây dựng cho mình. Nghe “Bên dòng sông Xuân” ta thấy nét dung dị, không có kịch tính và nhiều nút thắt, nhưng như vậy lại càng rõ cái chân chất của Đất và Người Miền Tây. Cuộc sống của gia đình cha con cô gái tên Xinh nổi trôi trên ghe cũng như bao phận người mưu sinh ở vùng sông nước này. Có những người gắn bó với cuộc sống ấy, nhưng có những người muốn thoát nghèo, mơ về nơi phồn hoa. Gia đình của Xinh đã có những tháng ngày và mùa Xuân thật ấm êm dù khốn khó. Thế nhưng, có những chặng lại chìm nổi như khóm lục bình trôi. Và rồi sau tất cả, những tia nắng ấm tràn đầy hy vọng đã rọi soi ở phía cuối câu chuyện. Cả nhà của Xinh đã đoàn tụ nơi “Chiều Xuân thơm nắng”. Ta hiểu rằng những điều tốt đẹp sẽ được tạo dựng từ tình yêu thương chân thành, tình cảm gia đình gắn bó khăng khít để cùng nhau vượt qua bão giông.

Truyện ngắn “Giấc mơ kí ức” của nhà văn Phan Đức Nam đưa chúng ta trở lại chiến trường Miền Nam những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước để nhấn mạnh số phận con người trong cuộc chiến. Truyện ngắn với giọng văn gai góc nhưng không khai thác sâu sự ác liệt của chiến tranh mà đi vào những mảng thiện, ác của con người. Nhân vật Thái là một kẻ xấu khi nghiện ngập, ăn trộm, giết người, tù tội nhưng chưa chắc là kẻ ác. Trong con người sớm nhiễm bao thói hư tật xấu của cuộc đời vẫn có những điểm sáng đáng quý. Thái là kiểu người ngang tàng, sống theo bản năng, bất cần đời, không lí tưởng, bị cuốn vào vòng xoáy tàn khốc của chiến tranh, cố gắng vùng vẫy tìm cách thoát nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Thái sãn sàng ra tay để trả thù cho Hoa dù quan hệ giữa hai người chỉ là “gái tứ chiếng, trai giang hồ”. Thái mang trên mình bộ quan phục lính chế độ Việt Nam Cộng Hòa nhưng không thù hận lực lượng giải phóng. Chính vì vậy, việc vô tình giết chiến người chiến sĩ trẻ khiến Thái ân hận, day dứt. Tấm lòng cao đẹp của cô gái Rừng đã đánh thức những điều lương thiện trong Thái. Người lính hi sinh đạt được tâm nguyện khi di vật được gửi về cho gia đình, người thân. Mấy chục năm sống trong cảnh chiến tranh, loạn lạc như một cơn ác mộng với Thái. Những hành động thiện lành của Thái khiến tâm hồn anh được thanh thản, những vết sẹo cuộc đời giờ chỉ con kí ức mờ nhạt mà thôi.

Truyện ngắn “Mặt người khác” của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế có cái tên thật gợi. Khi nghe nhan đề truyện ngắn, có lẽ nhiều bạn đọc và thính giả sẽ nghĩ về một câu chuyện thuộc đề tài tâm lý, xã hội. Qủa là như vậy, trong “Mặt người khác” nhà văn quê Phú Thọ đã khái thác về đời sống nội tâm, tâm lý hay chứng bệnh tâm lý mà nhiều người gặp phải trong đời sống. Ấy là khi con người ta hay bị luẩn quẩn trong những nỗi sợ, nỗi tự ti về bản thân, sợ bị đánh giá bởi cái nhìn của người khác. Nhân vật chính trong truyện là cô gái bán hoa huệ và người đàn ông làm đầu bếp. Vì cám cảnh những nỗi e ngại riêng mà một người luôn kết thân với chiếc khăn bịt mặt, một người không dám rời xa chiếc khẩu trang. Cứ ngỡ rằng đến một lúc họ đã can đảm vượt qua sự tự ti để đối diện với nhau, giành lấy tình yêu của mình, nhưng cuối cùng họ lại mượn gương mặt của người khác, thân phận của người khác sống thay cuộc đời mình. Có lẽ nhiều người tiếc nuối sẽ hỏi “Tại sao?”. Thế nhưng, chỉ khi mình ở vào hoàn cảnh và vị trí của người khác mới có thể thấu hiểu. Ai cũng mong rằng thời gian, sự từng trải sẽ giúp họ không bị những dày vò, rối ren trong tâm tưởng đeo đẳng. Một ngày, họ sẽ được đón nhận những điều tốt đẹp khi dám sống là chính mình.

Nhân vật chính của truyện ngắn cũng là người kể chuyện, nhân vật xưng “tôi” là một cô gái miền sơn cước bén duyên cùng một chàng trai người thành phố. Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào khai thác cuộc làm dâu, hòa nhập phố thị của một sơn nữ mà khắc sâu hơn ở chiều ngược lại, là cuộc trải nghiệm, khám phá của người chồng với làng bản, núi rừng quê vợ trong bối cảnh mùa Xuân. Và chính nhờ sự thích thú, những cảm nhận rất giản dị, nguyên sơ của người chồng đã khiến người vợ nhận ra rằng mùa Xuân ở làng bản của mình mới đẹp làm sao. Vậy mà bấy lâu nay suy nghĩ về quê hương của cô luôn có chút mặc cảm về một nơi chốn quê mùa, đìu hiu, heo hút. Khi trở thành vợ một chàng trai “thành phố đồng bằng, đứng đầu tất cả các thành phố trong nước” hẳn trong cô có chút tự hào, tự phụ. Thế rồi những chuyến về quê sau khi đã làm vợ, làm mẹ giúp cô nhận ra một nơi mà dẫu đã bứt mình ra khỏi thì vẫn là nguồn cội, là ký ức, là nơi chốn cô thuộc về và để trở về. Người chồng, qua những ngỡ ngàng, thích thú, anh cần nhiều thời gian hơn, nhiều mùa Xuân hơn và những mùa còn lại trong năm, thậm chí cả phần đời còn lại để hiểu về quê vợ, hiểu về những điều tươi đẹp và cả những bất trắc gặp phải trong môi trường đó. Sau cùng, cuộc sống đâu chỉ toàn niềm vui, toàn những điều trong lành, phẳng lặng, quan trọng là sau bất trắc, biến cố, điều sau cùng đọng lại vẫn là những khoảnh khắc đẹp mà chúng ta đã không bỏ lỡ trong đời. Đó có lẽ là điều tác giả gửi gắm qua truyện ngắn này.

Truyện ngắn được viết theo lối văn hiện đại, trẻ trung, mang những triết lí sâu sắc về cuộc sống và con người. Qua lời kể của nhân vật xưng Tôi-chàng trai trẻ tên Vũ làm nghề bartender (pha chế đồ uống), người đọc người nghe hiểu hơn về những góc khuất của nghề bartender cũng như của khách đến quán bar. Làm việc ở chốn giàu sang, hào nhoáng, ồn ào, Vũ vẫn giữ được bản chất chất lương thiện, trong sáng. Tình cờ anh gặp Hà-một cô gái trông có vẻ hiện đại, sành điệu nhưng bản chất là người chân phương, quê mùa. Một cô gái lấy thế mạnh nhan sắc để kiếm sống, nhưng lại là người khá tinh tế, nhạy cảm. Hai con người luôn cảm thấy cô đơn này đã có sự đồng cảm, chia sẻ, thấu hiểu; từ đó họ dần cảm mến nhau, quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau tốt hơn lên mỗi ngày. Người đọc người nghe mong cho mối tình chị em này sẽ có một cái kết trọn vẹn. Song, cuối cùng Hà quyết định rời xa chốn đô hội, trở về quê để làm lại cuộc đời.
“Ly Caipirinha cuối cùng” với nội dung đời sống đô thị hiện đại, có nhiều chi tiết độc lạ, được cài cắm tạo bất ngờ, nhịp điệu trần thuật nhanh, biến hóa. Kết thúc truyện, chi tiết Vũ phát hiện ông bố của mình tặng Hà chai rượu Thoquino rất bất ngờ. Vũ bàng hoàng, choáng váng, tâm hồn anh vụn vỡ, nhưng cũng tạo dư vị tràn đầy tinh thần nhân bản, đánh thức thiên lương trong lòng người đọc người nghe…

Quý vị và các bạn thân mến, qua lời kể của nhân vật cô gái tên Khanh, người đọc, người nghe cảm nhận được những cung bậc tình cảm của tình yêu đôi lứa. Người mẹ mất khi Khanh 18 tuổi là một bước ngoặt của cuộc đời cô. Cha làm việc ở xa, Khanh phải về quê sống cùng người bác. Ở quê, cô găp người anh họ tên Kha. Trong thời điểm cô đơn không người thân bên cạnh, hình ảnh người anh họ khỏe mạnh, niềm nở, tốt bụng như tia nắng ấm áp tâm hồn ngây thơ của cô gái trẻ. Những công việc làm nông, những câu trò chuyện thường ngày bồi đắp tình cảm của hai người một cách tự nhiên. Sự cố Khanh bị nhóm thanh niên làng cầm đầu là Tuyên sàm sỡ là một điểm nhấn của truyện ngắn. Trong lúc Khanh cảm thấy lo sợ, yếu đuối nhất thì anh Kha xuất hiện như người hùng để cứu cô. Từ lúc này hình ảnh anh đã in đậm trong trái tim của Khanh. Nhưng vì bên cạnh anh Kha luôn có cô người yêu tên Phượng nên Khanh chỉ biết dấu kín những tình cảm trong lòng mình. Khanh được ba đón sang Đức sinh sống, thời gian xa cách khiến tình cảm mới chớm nở trong lòng cô gái trẻ càng bị chôn dấu trong trái tim. Chỉ đến khi Khanh biết được anh Kha lập gia đình mà cô dâu lại không phải chị Phương thì cô mới thấy tiếc nuối. Khanh có lẽ sẽ nghĩ rằng giá mà ngày xưa cô vượt qua được mặc cảm về hoàn cảnh gia đình, vượt qua lời chì chiết của bác gái hoặc hiểu được thân phận thực sự của anh Kha thì … Nhưng duyên phận con người chính là như vậy. Bỏ lỡ chính là có duyên hữu phận với nhau. Truyện ngắn viết về tình yêu đôi lứa không có nhiều biến cố sâu sắc, không có nồng nàn cháy bỏng, chỉ là những vần vươn tơ tình khiến người đọc, người nghe thổn thức không nguôi. Duyên đến, duyên đi đều là tùy duyên, cái gì đã qua thì hãy buông bỏ bình tĩnh đối diện. Từ nơi đất khách quê người, có lẽ điều tốt nhất với Khanh đó là chúc phúc cho vợ chồng anh Kha.

Truyện ngắn chúng ta vừa nghe được viết theo phong cách lịch sử, dựa vào những dữ kiện về cuộc đời Tây Thi, người phụ nữ được phong là một trong Tứ đại mỹ nhân thời cổ điển của Trung Quốc. Tây Thi được vua nước Việt là Câu Tiễn giao cho một sứ mệnh, đó là làm mê hoặc vua nước Ngô là Phù Sai để Câu Tiễn đợi dịp báo thù. Sau đó Câu Tiễn chiến thắng và nước Ngô bị xóa sổ. Thế nhưng phần đời còn lại của Tây Thi mãi là một ẩn số. Nhiều người tin rằng Tây Thi đã chết. Truyện ngắn của Đỗ Trung Lai có thể xem như một giấc mơ đưa ta ngược dòng thời gian về trò chuyện với người xưa. Trong lịch sử nhân loại từ cổ chí kim, khi có chiến tranh, người phụ nữ thường trở thành một nạn nhân, một sự hy sinh bắt buộc. Những nỗi đau đớn xót xa của họ có mấy ai thấu tỏ. Chúng ta có thể liên tưởng đến những câu chuyện trong lịch sử Đại Việt có phần tương tự như câu chuyện về Huyền Trân công chúa hay An Tư công chúa. Nhà thơ Đỗ Trung Lai qua một tác phẩm mang đẫm màu sắc kỳ ảo đã bày tỏ niềm thương xót và đồng cảm với một trang mỹ nhân tuyệt sắc, cũng là tình thương yêu cho bao số phận người phụ nữ trên thế gian này có thể rơi vào cùng cảnh ngộ như Tây Thi. Bài thơ Nghe đàn nguyệt ở Tây Hồ ở phần cuối truyện là kết tinh của cảm xúc, hoàn toàn có thể xem là một tác phẩm độc lập. Đúng như lời nhân vật Tây Thi đã thổ lộ trong truyện, có được sự thấu hiểu và thương cảm ấy, những hận sầu oan ức từ thiên cổ như được cởi tan, đó cũng là tấm tình của người nghệ sĩ dành cho giai nhân tài tử.

Cô gái trong câu chuyện đã hồi tưởng lại một kỷ niệm đáng nhớ thời sinh viên, kỷ niệm gắn với một con người đã giúp cô nhận ra ý nghĩa cuộc sống, giúp cô vượt qua thời khắc yếu lòng, vượt qua những ranh giới tưởng chừng như bản thân với bản tính rụt rè, yếu đuối không thể nào bước tới. Nữ tác giả người Nga dựng nên tình huống cô gái bị kẹt trong thang máy và cũng đồng thời mắc kẹt trong một mối quan hệ mà chính tình cảm của cô bị đem ra trêu đùa. Một tình huống thử thách trong một thời điểm cũng vô cùng đặc biệt, chuyển giao năm cũ và năm mới. Những tưởng chừng ấy điều tệ hại sẽ hủy hoại nốt chút niềm tin, hi vọng le lói trong lòng cô gái trẻ. Thế nhưng, chính người thợ sửa đồng hồ mang quá khứ đạo chích, những câu chuyện về lòng tốt, lòng tự trọng, căn nhà đặc biệt và sự tử tế của ông đã sưởi ấm cô gái với trái tim yếu đuối, thương tổn. Cô đã giũ bỏ hết những tàn dư hoang mang, sống đúng thật là bản thân mình với sự tự tin, can đảm. Người thợ đồng hồ thích những tiếng tích – tắc của đồng hồ giống như nhịp đập trái tim con người. Dù sau này cô không còn gặp lại người thợ sửa đồng hồ ấy nhưng những mảnh ký ức đẹp về ông vẫn như một nguồn sáng diệu kỳ mãi còn dọi suốt hành trình cuộc sống. Vậy đó, có những con người, ta chỉ tình cờ gặp trong đời thế nhưng câu chuyện của họ đã thực sự truyền cảm hứng để ta sống đẹp hơn, giá trị hơn, cho quãng đời về sau, trái tim không ngừng những nhịp ấm nóng, không chút yếu lòng còn vương lại…

Quý vị và các bạn thân mến, tục ngữ ta từ xưa đã có câu “Gieo nhân nào, gặt quả ấy” hay câu nói “luật nhân quả không chừa một ai chớ nên xem thường” để nhắc nhở con người về cách sống ở đời. Triết lý về luật nhân quả bắt nguồn từ chính quy luật của cuộc sống. Gieo nhân nào thì được quả ấy như trồng dưa được dưa, trồng đậu thì thu hoạch đậu, khi con người làm việc tốt, việc xấu sẽ có báo đáp phù hợp hành động của mình. Nhân quả không phụ thuộc vào ý muốn của con người, có thể thể hiện ngay lập tức hoặc đến một thời điểm nào đó hạt giống sẽ nẩy mầm. Truyện ngắn “Sám hối”của tác giả Nguyễn Hồng cũng bắt nguồn cảm hứng từ quy luật nhân quả. Cuộc đời của nhân vật Thin gặp không ít điều bất hạnh. Bố mẹ bị kẻ xấu giết khi Thin còn nhỏ, Thin mồ côi cha mẹ lớn lên không người nuôi dưỡng, giáo dục. Khi trưởng thành Thin lập gia đình có con gái, con gái. Tưởng rằng cuộc đời Thin dù nghèo khó nhưng cũng yên ấm trôi qua nhưng không ngờ bà vợ mắc bệnh hiểm nghèo. Cảnh nhà khó khăn vật vả, vợ lại ốm đau bệnh tật đã vắt kiệt sức lực, tâm trí của Thin. Đúng lúc này Mân xuất hiện giúp đỡ như một con người tốt bụng. Nhưng đằng sau những hành động tưởng rằng lòng tốt, sự hào sảng của Mân là âm mưu thâm độc. Qua thời gian tiếp xúc với dân làng, Mân đã kích động sự bất mãn, lòng thù hận trong lòng một nhóm người dân nhẹ dạ cả tin. Nghe theo lời Mân, Thin và nhiều người trẻ tuổi trong làng đã tham gia phá hoại ủy ban xã, gây ra cái chết thương tâm cho anh Hải, người cán bộ tốt bụng. Cái chết của anh Hải khiến Thin vô cùng choáng váng. Đến lúc này Thin mới biết mình bị Mân lừa gạt nhưng tay đã nhúng chàm khó thoát. Sau mấy ngày lẩn trốn gặm nhấm nỗi day dưt, Thin quay trở về nhà định chia tay vợ con rồi ra đầu thú. Nhưng người vợ đã tự sát khiến Thin vô cùng đau khổ. Người vợ chết như một sự giải thoát còn Thin phải sống với sự ân hận suốt đời. Ánh mắt của anh Hải trước khi chết hay ánh mắt giận dữ và tuyệt vọng của thằng Pha là điểm nhấn của truyện ngắn mãi ấm ảnh Thin cũng như người đọc, người nghe. Truyện ngắn nói tới quy luật nhân quả cũng là lời cảnh tỉnh con người chớ rơi vào cạm bẫy của kẻ xấu để gây ra những lầm lỗi đáng tiếc.

Điều dễ nhận thấy là các sáng tác trước của Phan Đức Lộc giàu cảm xúc, mang đậm phong vị núi rừng và phần lớn nói về thân phận của người phụ nữ vùng cao. Với truyện ngắn mới này, Phan Đức Lộc bắt đầu với đề tài đồng giới-một đề tài đòi hỏi cách viết khéo léo, tinh tế thể hiện sự đồng cảm của người viết nếu không rất dễ sa vào kiểu viết đơn giản, sống sượng chỉ cốt kích thích trí tò mò của người đọc, người nghe. Qua lời kể của nhân vật kể chuyện xưng Tôi-người con gái, hình ảnh người cha hiện lên thật ấm áp, tình cảm, là chỗ dựa vững chãi của người con. Song sự thực đó chỉ là người cha trên danh nghĩa. Mẹ bỏ hai cha con theo một người đàn ông khác. Cha nuôi nấng Tôi, một mình đóng hai vai, vừa làm cha vừa làm mẹ. Cha chăm chỉ bắt ốc mò cua cào hến nuôi con, một mình đóng cả hai vai kịch Romeo và Juliet. Đứa con gái lớn lên, ra thành phố kiếm sống quăng quật, gặp tai họa nguy hiểm chết người nhưng cũng gặp được tình yêu. Người con trai yêu Tôi chân thành, nồng thắm. Nhưng, chính ở chỗ thắt ngặt này, Tôi nhận ra mình đã yêu em gái của người yêu. May mắn, nhờ tuổi trẻ, sự thấu cảm giới tính thứ ba của xã hội và đặc biệt là lòng nhân ái của người con trai con trai đã giúp Tôi được chuyển giới, được sống là chính mình. Trong khi đó người cha đã không được sống là chính mình, cha đã gồng mình lên, cố sống mạnh mẽ như một người đàn ông thực thụ, dồn nén mọi nỗi đau trong lòng. Truyện trở nên hấp dẫn hơn khi đứa con gái trở về, gặp lại người cha đã già nua hốc hác nhưng vẫn đang sắm cả hai vai Romeo và Juliet, diễn sâu như thể vở bi kịch cổ điển đã trở thành một thế giới nghệ thuật – thành chỗ để sống của riêng người cha. Phan Đức Lộc có khả năng xây dựng cốt truyện để cơi nới nỗi lòng người đọc người nghe, khiến cái bi đát biến hóa thành niềm bùi ngùi cứ lan tỏa mãi ra theo sâu rộng của nỗi lòng ấy.
Tên truyện là Lỗ sẻ, và xuyên suốt câu chuyện là hình ảnh Lỗ sẻ. Lỗ sẻ tượng trưng cho khát vọng của con người. Từ đây sẽ mở ra dòng sông, mở ra cánh đồng, mở ra một chân trời thênh thang ngập nắng-một chân trời hạnh phúc.

Ngược biên niên sử trở về những năm đầu thế kỷ 20, cuộc sống ở làng quê thời xưa cũ, khi con người sống gắn bó với tự nhiên, với nhiều tập tục lâu đời, những nếp sống, nếp nghĩ còn thuần chất. Tác giả đã dày công tạo dựng một không gian bảng lảng nét hoang lạnh cùng với đó là nội tâm phức cảm của con người một thời ranh giới giữa cái thực và cái ảo, giữa truyền thuyết và thực tế chưa minh định. Thuở ấy người ta sống giữa hai bến bở hư – thực, sống tựa vào nhau và truyền cho nhau tâm cảm về quá khứ, vừa sống vừa tìm hiểu, khám phá và tự tiến hóa chính mình. Thuở ấy cũng có những cái ác, cái xấu nhưng rạch ròi hơn và vẫn còn lòng tin gần như tuyệt đối vào quy luật ác giả ác báo. Thế nhưng, dù là thời nào thì vẫn vậy, lòng tốt, mầm thiện vẫn cứ âm thầm được gieo trồng, nảy nở tự trong tâm. Nhân vật Hoàng Văn Giang, người đàn ông sống đơn độc giữa đất trời, cây cỏ đã tìm thấy niềm đồng cảm với cô gái phải mang thân phận người Dơi, phải trả giá cho tội lỗi của mẹ cha. Bao năm tháng đã qua đi, câu chuyện về người Dơi càng thêm kỳ bí, cô gái trong thân phận người Dơi bị gán cho bao tai họa đổ xuống làng Vực. Thế nhưng, khi ngẫm lại, cô gái đáng thương phải sống cuộc đời hoang thú, bị truy sát đến hang cùng thẳm cốc ấy vẫn chưa một lần xuống tay với những kẻ hãm hại cô. Có chăng, tất cả những người kẻ ấy đều đã trút bỏ lòng tham, sự thù hận và sống lương thiện hơn sau khi nhìn thấu bản chất đúng nghĩa con người sâu bên trong thân xác người Dơi với ý nghĩa đọa đày. Càng về cuối truyện, biểu tượng về đôi cánh càng trở nên lấp lánh. Phải! Đôi cánh sẽ giúp con người thỏa mãn khát vọng bay lên, thoát khỏi kiếp sống cô độc nơi cõi nhân gian. Nhưng đôi cánh không tự nhiên mà có, chỉ khi đi đến tận cùng của sự giải thoát, trút bỏ hết những cừu hận, những tham- sân- si, con người mới có thể nhẹ nhõm thoát thân, thanh thản. Khi đó, đôi cánh không còn là cái lốt của loài vật, đôi cánh đã dẫn tâm hồn con người bay tới những khoảng không bay bổng, là cõi sống lý tưởng, nơi tâm hồn hoàn toàn tự do…

“Sấm rền Độc Tôn Sơn” là truyện ngắn lịch sử kể về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, thời vua Lê chúa Trịnh. Tác giả đã xây dựng nhân vật Nguyệt Tranh với tính cách phức tạp. Ban đầu Nguyệt Tranh tiếp cận Nguyễn Danh Phương để trả thù cho đấng sinh thành. Nàng mất cả cha lẫn mẹ trong loạn lạc giao tranh giữa một bên là đội quân của thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương và một bên là đội quân triều đình. Nàng luôn nghĩ Nguyễn Danh Phương là giặc cỏ, là kẻ đẩy nàng vào bi kịch gia đình. Nàng dùng mỹ nhân kế trở thành người đàn bà của Nguyễn Danh Phương. Nàng giúp Nguyễn Phan, một viên tướng triều đình cũng là người có tình cảm với nàng đưa hai kẻ Phạm Tiền và Đỗ Chung vào làm môn khách ở căn cứ của nghĩa quân. Thực chất hai kẻ này có mối thâm thù với Nguyễn Danh Phương, dùng mọi mưu hèn kế bẩn mục đích phá hoại nghĩa quân từ bên trong. Khi thấy nàng Nguyệt Tranh không nghe theo kế hoạch của chúng giết Nguyễn Danh Phương, Phạm Tiền là thầy phù thủy đã dùng bùa phép che mắt thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương và những người lãnh đạo nghĩa quân khiến cả quân doanh hiểu lầm nàng là cáo tinh hóa thành hủy hoại cơ nghiệp của đại vương. Nàng bị giam lỏng và bị mọi người xa lánh. Tình tiết mang tính liêu trai, kỳ ảo này được tác giả khéo léo lồng ghép trong truyện tạo nên sự hấp dẫn, kịch tính. Cái hay của truyện chính là tác giả đã thành công xây dựng chuyện tình trong truyện. Mối tình tay ba giữa Nguyễn Danh Phương- Nguyệt Tranh- Nguyễn Phan. Nàng thực sự yêu ai. Ai mới là anh hùng, xứng đáng để nàng yêu. Nguyễn Phan là tướng quân triều đình, lập nhiều chiến công hiển hách, là người được chúa Trịnh tin tưởng giao trọng trách tiêu diệt Nguyễn Danh Phương. Còn Nguyễn Danh Phương là anh hùng cái thế hay giặc cỏ. Điều này quyết định đến sự lựa chọn của Nguyệt Tranh. Sau khi trở thành nữ chủ nhân của đại đồn, nàng Nguyệt Tranh đã nhận ra Nguyễn Danh Phương là một người anh hùng áo vải, dám đứng lên chống lại triều đình vua Lê chúa Trịnh mục nát. Nàng muốn gột rửa tội lỗi của mình với nghĩa quân. Trong tình thế đại đồn gặp nguy khốn, nghĩa quân bị dìm trong bể máu, Nguyệt Tranh đã chọn hi sinh bản thân, chặn đường tiến quân của quan binh triều đình để bảo vệ thủ lĩnh Nguyễn Danh Phương - phu quân của nàng và bảo toàn lực lượng nghĩa quân. Với những tình tiết gay cấn, truyện ngắn lý giải nhiều góc khuất của lịch sử cũng như mở ra những góc nhìn rộng hơn về một giai đoạn lịch sử đau thương của đất nước.

Quý vị và các bạn thân mến, tình làng nghĩa xóm được thể hiện từ những điều đơn giản như lời chào hỏi cởi mở hàng ngày tới việc chia sẻ niềm vui nỗi buồn, giúp đỡ nhau những lúc có công có việc. Với những người chuyển tới nơi ở mới thì môi trường sống xung quanh nhất là hàng xóm, láng giềng rất quan trọng. Khi nhân vật Nga chuyển tới ngôi nhà mới, cô đã rất mừng vì không gian sống sạnh sẽ, con người vui vẻ và có nếp sống văn hóa. Thế nhưng buồn một nỗi gia đình hàng xóm lại quá bất ổn. Đầu tiên là cậu con trai bị bắt vì trộm cắp đồ của công ty rồi vợ chồng hàng xóm thì suốt ngày mắng chửi nhau. Sau một thời gian bà vợ bị mất vì ung thư thì đến ông chồng ngày đêm hát Karaoke làm phiền hàng xóm. Ông biến một thú vui giải trí cá nhân trở thành nỗi phiền toái cho cả cộng đồng. Nhưng khi Nga biết việc ông hát cho vơi nỗi cô đơn, nỗi buồn trong lòng thì cô bỗng thấy thương người hàng xóm xấu số. Sự khó chịu vì tiếng hát của ông trở thành nỗi cảm thông, thấy hiểu. Truyện ngắn viết dung dị về cuộc sống đời thường rất gần gũi với chúng ta. Mỗi cây mỗi quả, mỗi nhà mỗi cảnh. Cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận theo ý muốn của con người. Những sự việc, chi tiết trong câu chuyện người đọc, người nghe đều có thể gặp được trong cộng đồng dân cư thậm chí trong chính gia đình của mình. Chúng ta đồng cảm với những nỗi bất hạnh của người đàn ông hàng xóm và xúc động trước tấm lòng nhân hậu của nhân vật Nga. Khi gặp những việc chưa vừa ý về hàng xóm làng giềng nên đặt mình vào vị trí của họ để từ đó có sự thấy hiểu và chia sẻ. Hàng xóm tối lửa tắt đàn có nhau. Hàng xóm chính là những người hàng ngày sống xung quanh chúng ta, tại sao chúng ta lại không dành cho họ những tình cảm yêu mến, không chia sẻ với họ những lo toan, buồn vui của cuộc sống hàng ngày. Truyện ngắn khai thác đề tài mối quan hệ hàng xóm láng giềng để nói đến tình nghĩa con người.