
Trong các tác giả thơ nữ đương đại thuộc thế hệ 8x sinh sống và làm việc tại khu vực TP HCM khoảng 15 trở lại đây, Nguyễn Thiên Ngân là một cái tên gây được nhiều sự chú ý đặc biệt. Khởi đầu bằng văn xuôi với Giải Nhất truyện ngắn cuộc thi Chân dung tuổi mới lớn của báo Mực tím năm 2005, cho đến năm 20 tuổi đã có 4 tập truyện được in nhưng sau đó Nguyễn Thiên Ngân gây dấu ấn mạnh hơn cả với thơ. Từ tập thơ đầu mang tên Mình phải sống như mùa hè năm ấy (2012), chị đã lần lượt công bố thêm 3 tập thơ khác là: Lạ lùng sao, đớn đau này (in lần đầu 2013, tái bản 2017), Ôm mỏ neo nằm mộng những chân trời (in lần đầu 2015, tái bản 2018), Có người sực tỉnh cơn mơ (2018). Nhiều bài thơ, câu thơ của chị đã trở thành trào lưu của giới trẻ, được nhiều diễn đàn văn học trên các mạng xã hội đăng tải và nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt từ độc giả, nhất là giới học sinh, sinh viên. Chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6) lần này xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Nguyễn Thiên Ngân với tên gọi: Nguyễn Thiên Ngân – Dưới trời này sao sáng cũng vì nhau

Câu chuyện xoay quanh mối tình âm thầm, sục sôi, đau khổ và tan nát của Khai Dèn, một chàng trai bản, dành cho Cà Xé, - một cô gái núi đã nhuốm màu phố thị... Ngày trước, nhà Khai Dèn với nhà Cà Xé chỉ cách nhau một khe suối và quả đồi bằng. Lúc nhỏ, hai đứa và bọn trẻ trong bản thường chơi chung với nhau. Hè đến lũ trẻ rủ nhau tắm suối, té nước, nô đùa chí chát vang khắp núi đồi. Bố Khai Dèn và bố Cà Xé từng là đôi bạn rất thân, họ cùng đi buôn bán đường xa. Nhưng rồi bố Khai Dèn mất sau một vụ tai nạn, và số phận của hai gia đình cùng những đứa trẻ từ đó thật khác nhau. Nếu như Khai Dèn phải nghỉ học để cáng đáng mọi việc trong gia đình thì Cà Xé ngày càng được cưng chiều vì gia đình khá giả, cô lại xinh đẹp, khéo léo, múa giỏi. Cà Xé xuống huyện học thì càng trở nên xa xôi với Khai Dèn. Vẫn biết mình và Cà Xé như hai dòng suối nhỏ khó lòng gặp nhau, nhưng Khai Dèn vẫn muốn lại gần, vẫn âm thầm hi vọng, bởi chả điều gì ngăn được trái tim yêu của một chàng trai trẻ. Nhưng rồi, cái đêm dân bản tiễn đoàn làm phim, cũng chính là cái đêm Khai Dèn nhận ra trái tim mình đã trao gửi nhầm chỗ, Cà Xé có lối sống khác xa với những cô gái núi, khác xa với những gì Khai Dèn vẫn tự thêu dệt, huyễn tưởng trong tâm trí. Hành động Khai Dèn vứt chiếc bút Cà Xé tặng, thả nốt cả cái khăn mùi soa định tặng cô như một sự thức tỉnh, sự dứt khoát từ bỏ một mối tình đơn phương, cũng là từ bỏ thứ không phù hợp với mình. Câu chuyện không chỉ dừng lại ở chuyện tình của một đôi trai gái, nó còn truyền tải thông điệp về giữ gìn bản sắc văn hóa, lối sống của một bộ phận thanh niên miền núi trong bối cảnh hòa nhập đời sống hiện đại và giao thoa văn hóa giữa các vùng miền hiện nay. (Lời bình của BTV Vân Khánh)
Truyện ngắn “Bài hát hôn lễ” mở đầu với tâm sự và lời kể về tiếng sáo mê hoặc của lão Platko. Ông là người cha luôn mang trong mình nỗi đau lỡ dở hôn nhân của người con gái mà chính ông là người đã gián tiếp dự phần. Đến kết truyện, nhà văn mới miêu tả thật ngắn gọn mà sinh động bản nhạc hôn lễ phát ra từ cây sáo trúc của lão Platko. Ở đầu truyện, người cha đầy ẩn ức này không chơi bản nhạc hôn lễ theo yêu cầu của những người thợ cắt cỏ nhưng đến cuối truyện, tiếng sáo của ông vang lên theo nhịp điệu tươi vui, hi vọng trong tâm tư. Người con gái khốn khổ của ông sẽ được hạnh phúc, dù muộn màng và đã qua biết bao bầm dập, đau khổ. Cấu trúc hình ảnh lặp lại ở đầu và cuối truyện đọng lại dư vị. Nhà văn Roman Ivanytchouk vẫn thể hiện được phong độ qua văn phong kể chuyện liền mạch, hấp dẫn. Truyện ngắn này của ông vẫn như một dòng chảy âm thầm, xuyên suốt, thấm thía về lẽ đời. (Lời bình của BTV Võ Hà)
Huế là vùng đất có truyền thống lịch sử, chiều sâu văn hóa. Từng là Thủ phủ của Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, rồi trở thành kinh đô đất nước dưới triều Tây Sơn và tiếp tục là kinh đô trong gần một thế kỷ rưỡi dưới triều Nguyễn, ca dao về xứ Huế cũng phong phú, đa dạng về nội dung, cảm xúc.
Thơ, trước tiên là những giăng mắc nỗi đời. Có khi những nỗi đời ấy được hình tượng hóa, thấm thía, cô đọng trong cảm xúc thơ. Nhưng cũng có khi, tác giả giãi bày một cách trực diện, ám ảnh trên từng trang viết. Thơ của Thy Nguyên (Tên thật là Phạm Thúy Nga) ở Hải Phòng hòa quyện hai cách viết ấy, ở đó trội lên vẫn là những độc thoại đầy dằn vặt. Tập thơ mới nhất của nữ nhà thơ đất Cảng có nhan đề “Phố vợ cũ” ăm ắp nỗi niềm thân phận.
Nhiều nhà nghiên cứu đã cất công tìm hiểu về các địa danh được đề cập tới trong bài ca dao "Gió đưa cành trúc la đà...", đặc biệt là địa danh Thọ Xương. Trong đó, những phân tích khoa học của Nhà nghiên cứu Tôn Thất Thọ xác tín hơn cả.
Trong các cây bút trưởng thành trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Đức Mậu là một gương mặt đặc biệt. Cùng được giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972-1973 với ba nhà thơ khác là Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ và Hoàng Nhuận Cầm song có thể thấy, chất thơ của Nguyễn Đức Mậu đi theo một lối riêng: Kín đáo và bình dị, lặng lẽ mà bền bỉ, ngày càng dày thêm về nội lực, sâu sắc về cách nhìn đời sống. Trải qua hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, Nguyễn Đức Mậu vẫn không ngừng có thêm những tác phẩm mới, được bạn đọc chào đón. Nhân dịp Nguyễn Đức Mậu vừa in hai tuyển tập thơ và trường ca như một tổng kết hành trình của mình vào tháng 12 vừa qua, chương trình Đôi bạn văn chương của Ban Văn học Nghệ thuật (VOV6) xin được dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ ông với tên gọi: Nguyễn Đức Mậu – Mùi thơm của hương trầm.

Câu chuyện chúng ta vừa nghe, như chính lời tác giả Nguyễn Anh Vũ tự bạch, được viết ra từ chính những ký ức về vùng quê ngoại Thái Bình của tác giả. Không khí, bối cảnh và các nhân vật đã trăn trở trong Nguyễn Anh Vũ từ rất lâu, chỉ còn chờ đúng dịp là tất cả ùa ra trang giấy. Hai nhân vật chính trong truyện ngắn là Toại và Thoan, những người cùng xã, khác thôn. Toại là thương binh hạng nặng từ chiến trường trở về. Còn với Thoan, dù tác giả không nói rõ nhưng người đọc cũng có thể đoán được cô đã từng là một người lính, có thể là một nữ thanh niên xung phong, một cô gái giao liên hay mở đường chẳng hạn. Và chắc là Thoan với Toại đã từng có những ân tình sâu đậm. Thế nên sau 10 năm Toại ở trại điều dưỡng, khi Thoan hay tin Toại còn sống đã tìm mọi cách để đón được Toại về và họ thành vợ thành chồng. Toại chỉ còn một tay trái và nửa chân phải, nặng 21 kg, gần như đã là một người tàn phế. Việc Thoan đón Toại về vì thế là một nghĩa cử, một hy sinh lớn lao chứ không phải mưu cầu bất cứ một quyền lợi gì. Nhưng bản năng và khát khao chính đáng của người phụ nữ trong Thoan sau đó vẫn cất lên, rằng cô mong muốn có một đứa con. Toại làm sao có thể thực hiện được điều ấy. Anh cũng đã sẵn sàng, mở lòng để Thoan có thể nhờ một người đàn ông khác giúp, dù đó có thể là thằng Sật, một gã đàn ông có “hàm răng thuốc lào vàng ệch, tóc xoăn tít, râu quanh mồm rậm rịt lan xuống tận cổ” và hay ve vãn phụ nữ. Người nghe, người đọc cũng có lúc cảm tưởng rằng, chắc Thoan sẽ nhờ một người đàn ông nào đó giúp cho mình mang thai, sinh con. Nhưng càng về cuối truyện thì những điều bất ngờ nhất mới được hé lộ. Thoan không những đi tìm thuốc cho Toại mà còn nhờ đến cả những sức mạnh tâm linh qua lá bùa mà sư thầy trên chùa Cả cho. Và hạnh phúc đã đến với Toại và Thoan ở đoạn cuối tác phẩm trong một sự hồi sinh sức lực đàn ông của Toại, để thắp lên ước mơ trọn vẹn trong Thoan. Chi tiết hai vợ chồng ôm nhau trong con thuyền trôi đi trên đầm sen mang vẻ đẹp đầy lãng mạn và kỳ ảo, đồng thời cũng sáng lên một niềm tin bất diệt vào tình yêu và hạnh phúc. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)
Thưa các bạn! Một năm trôi qua, thật gần rồi lại thật xa. Thơ cũng như dòng chảy cuộc sống không ngừng chuyển động. Mới đó mà đã lại gặt hái các mùa giải thưởng. Hội Nhà văn Việt Nam vừa mới công bố danh sách các tác giả và tác phẩm đoạt giải thưởng năm qua. Giải thưởng thơ được trao cho tập “Đồng sen tàn” của nhà thơ Nguyễn Phúc Lộc Thành. Sách do Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. BTV Tiếng thơ đã gặp và ghi nhận những cảm xúc, chia sẻ của nhà thơ Nguyễn Phúc Lộc Thành. Mời các bạn cùng theo dõi:
Nhiều bài ca dao các vùng miền mở đầu bằng mô – típ quen thuộc “Gió đưa”. Và mô – típ này cũng diễn tả, phát triển thành những hình ảnh câu chuyện, cảm xúc vô cùng phong phú, đa dạng. "Gió đưa cành trúc la đà" được xem là một trong số những bài ca dao đề tài thiên nhiên, phong cảnh phổ biến tới tận ngày nay.

Tác giả Hoàng Kiến Bình chia sẻ: “Tôi viết truyện ngắn “Cánh chim hồng hộc” trong thời gian tham gia trại viết của tạp chí VNQĐ tại Đà Lạt. Ý tưởng để viết truyện này là khi tôi đọc những tư liệu lịch sử về danh tướng Yết Kiêu. Cảm phục và ngưỡng mộ vị danh tướng dũng cảm, tận trung tôi bắt tay viết truyện dã sử này”. “Cánh chim hồng hộc” là truyện ngắn điển hình về tình tướng sĩ, phụ tử. Tướng có lập được công lao to lớn là nhờ sự hi sinh xương máu, hết lòng phò tá của sĩ tốt dưới quyền. Như chim hồng hộc bay được cao là nhờ những trụ xương cánh vững chắc. Trần Quốc Tuấn đã biết ơn những người phó tá mình bao năm trận mạc, những Dã Tượng, Yết Kiêu và hàng trăm nghìn sĩ tốt vô danh khác đã không tiếc máu xương mình vì non sông, vì minh chủ mà không một giây khắc dám trễ nải mệnh lệnh. Lớn hơn nữa, câu chuyện ngầm ý về tình đoàn kết, keo sơn, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào của quân dân Đại Việt, nhờ thế mà đánh thắng được bao kẻ thù hung bạo. Chi tiết đắt nhất của truyện là việc Yết Kiêu không chịu rời đi nếu Trần Quốc Tuấn không đến là minh chứng cho lòng trung thành, sự dũng cảm, ý chí kiên trường và tình yêu thương tướng sĩ, phụ tử. Truyện tôn vinh danh tướng Yết Kiêu, người tướng giỏi, bằng sự dũng cảm, mưu trí, đã giúp Hưng Đạo vương vượt qua những nguy nan, tôn vinh sự tận trung của người lính với đất nước, giang sơn. Là tác giả trẻ mới vào nghề nhưng Hoàng Kiến Bình đã gây sự bất ngờ, thú vị cho độc giả bằng những truyện ngắn dã sử với lối viết dung dị, mộc mạc và trên hết là thể hiện được niềm tự hào và tôn kính đối với các bậc tiền nhân. Chúng ta hy vọng và chờ đón nhiều tác phẩm hay hơn của tác giả trong thời gian tới. (Lời bình của BTV Vân Khánh)
Ngay lúc này, thời khắc này, chương trình mời các bạn thưởng thức những câu thơ ngân lên trong tĩnh lặng. Cảm xúc lắng đọng ấy cũng dàn trải trong tập thơ mới của họa sĩ Trần Thắng. Thời điểm chuyển giao này, chúng ta cùng nhìn lại điểm nhấn của thơ năm nay qua trao đổi giữa BTV Ban VHNT (VOV6) với nhà thơ Trần Anh Thái – Chủ tịch Hội đồng thơ – Hội Nhà văn Việt Nam.
Người xưa thường mượn những hình ảnh thân thuộc, gần gũi để ký thác nỗi niềm, tâm sự. Trúc, mai là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt và cũng xuất hiện rất nhiều lần trong ca dao. Tác giả dân gian nhắc đến trúc, mai; nhưng không phải để tả thực cây trúc cây mai, cũng không phải bàn chuyện trúc mai phong cảnh, mà mượn mai, trúc để nói về con người.

Đây là truyện ngắn lịch sử đặc sắc của tác giả trẻ Nguyễn Anh Tuấn kể về tình cảm sâu nặng giữa Bình An vương Trịnh Tùng - vị chúa đầu tiên của dòng họ Trịnh dưới thời Lê Trung hưng với người anh trai cùng cha khác mẹ là Thái phó Trung quốc công Trịnh Cối. Nhưng, những biến cố của thời cuộc đã đẩy hai anh em họ vào một cuộc chiến tranh giành quyền lực đầy khốc liệt. Truyện lấy bối cảnh Việt Nam ở thế kỷ 16, thời kỳ nội chiến Nam - Bắc triều, giữa nhà Mạc và nhà Lê trung hưng. Thái sư Trịnh Kiểm nắm trọng trách trung hưng nhà Lê, nên ông rất nghiêm khắc trong cách giáo dục con cái, đặc biệt là người con cả Trịnh Cối. Chuyện xảy ra khi Trịnh Cối và Trịnh Tùng rủ nhau đi tắm ao, suýt nữa bị chết đuối. Thái sư Trịnh Kiểm đã dựng lên màn kịch xử chém những người hầu để dạy cho các con ông bài học về sự cẩn trọng trong cách hành xử nếu không sẽ liên lụy đến người vô tội. Thế nhưng, bài học khắc nghiệt ấy đã thay đổi số phận của hai anh em. Trịnh Cối - người được kỳ vọng gánh vác sự nghiệp thì ngày càng thu mình, sợ sệt, do dự, thiếu quyết đoán. Trong khi đó, người em trai Trịnh Tùng ngoài sự day dứt vì liên lụy đến người vô tội, đã dần thấu hiểu đạo lý, chính chắn hơn người anh của mình. Thế rồi, khi Trịnh Kiểm chết, Trịnh Cối lên thay cha, như con chim xổ lồng, lại buông thả, ham mê tửu sắc, bê trễ việc binh làm cho ba quân bất mãn. Dẫn đến việc các tướng lĩnh đưới quyền chọn Trịnh Tùng làm minh chủ, ép vua Lê phải trao binh quyền cho ông. Mặc dù rất khó xử, nhưng vì cơ nghiệp khó nhọc của cha, Trịnh Tùng buộc phải làm điều bất nghĩa với anh. Cũng vì điều đó mà hai anh em trở mặt thành thù, Trịnh Cối phải bỏ nhà Lê về với nhà Mạc, rồi chết trên đất Bắc Triều, sau đó, rất lâu mới được đưa linh cữu về quê nhà. Thông điệp của truyện được thể hiện rõ nhất khi Trịnh Tùng đếm thăm mộ Trịnh Cối. Lúc nghe người hộ vệ phàn nàn về đứa con ham chơi, Trịnh Tùng đã khuyên rằng: “…Cha mẹ nào cũng kỳ vọng con cái công thành danh toại, cho bõ công dưỡng dục, điều ấy không sai. Nhưng cũng đừng kỳ vọng quá và cũng đừng đem ước mơ dang dở của đời mình gán lên cuộc đời chúng. Mỗi người đều có một phận số riêng, hãy cứ thuận theo, đừng cố cưỡng cầu hay ép buộc”. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, rất nhiều trường hợp trẻ vị thành niên bị trầm cảm, stress thậm chí là tự tử vì áp lực phải thành công từ gia đình đầy thương tâm, tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã mang đến một câu chuyện hấp dẫn với góc nhìn mới mẻ về cách giáo dục con cái. Sự kỳ vọng và nghiêm khắc của cha mẹ đôi khi là áp lực cho những đứa con trên đường đời của chúng. Hãy nghiêm khắc nhưng có sự thấu hiểu, yêu thương, hãy kì vọng nhưng có sự động viên, định hướng. Một thông điệp nhân văn, đầy tính thời sự được kể bằng chất liệu văn chương lấy cảm hứng từ những nhân vật, sự kiện lịch sử có thật của Việt Nam. Đồng thời, với sự hiểu biết lịch sử và cách hành văn khúc chiết, tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã vẽ nên một bức tranh lịch sử đầy khói lửa, chân thực và sống động trên từng trang viết của mình. (Lời bình của BTV Vân Khánh)