
Truyện ngắn chúng ta vừa nghe xoay quanh câu chuyện cuộc đời của ké Ma Thàng, người đàn ông già nhất vùng thung lũng Bá Thưng, cũng là người có công khai sinh, gây dựng vùng đất này, được mọi người coi như thổ địa sống. Ông Ma Thàng cũng đồng thời mang trong lòng một bi kịch, một nỗi buồn sâu nặng mà ông muốn chôn dấu. Nhưng càng về cuối đời thì câu chuyện cũ càng trỗi dậy như vò xé tâm can. Mọi chuyện chỉ bắt đầu hé lộ khi cháu nội của ông, Siều, phát hiện ra chiếc vòng bạc mà ông Ma Thàng giấu kín trong chiếc chăn cũ kỹ. Siều quyết tâm tìm hiểu bí mật về chiếc vòng, cũng là để hóa giải căn bệnh buồn bã kỳ lạ của tất cả những con người ở vùng Bá Thưng. Sau khi đưa hình ảnh chiếc vòng lên mạng xã hội, Siều đã nhận được thông tin về người phụ nữ có chiếc vòng y như ông nội của mình. Cuộc đón tiếp giữa gia đình Ma Thàng và hai mẹ con người phụ nữ đã trở thành cuộc đoàn viên xúc động nghẹn ngào khi ông Ma Thàng nhận ra con gái ruột của mình, cô gái bé bỏng năm xưa đã bị nước lũ cuốn trôi mất tích. Ông Ma Thàng hồi ấy chỉ tìm được xác vợ mà không thấy con đâu. Vậy là nỗi buồn của miền đất đã được hóa giải bởi người đứng đầu, ông Ma Thàng, đã cất đi được gánh nặng u sầu suốt bao năm trong lòng mình. Thế mới biết, gia đình luôn là một vùng kỷ niệm máu thịt thiêng liêng mà người ta không bao giờ nguôi quên được, ngay cả khi tuổi già và bệnh tật có kéo tới, trí nhớ có suy giảm thì từ trong miền vô thức, tiềm thức, tất cả những câu chuyện đã qua không bao giờ nguôi ngoai. Nó thúc đẩy họ phải làm một điều gì đó để có được sự thanh thản trước khi từ giã cõi đời. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)
Chương trình đêm nay dành toàn bộ thời lượng để nhắc nhớ về hình ảnh và tâm tình của người chiến sĩ Công an nhân dân. Bên cạnh chùm thơ của những tác giả đã và đang công tác trong ngành Công an, chúng ta sẽ được lắng nghe Thiếu tá, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn tâm sự về những vần thơ viết về cha - Một chiến sĩ Công an nhân dân. Cảm kích trước tấm gương hy sinh dũng cảm của ba chiến sỹ Công an khi làm nhiệm vụ chữa cháy ở TP Hà Nội mới đây, tác giả Phát Dương đã viết bài thơ có nhan đề “Nở” như một ngọn nến thắp lên lòng tri ân giữa thời khắc thảng thốt đau buồn.
Trong chương trình “Tìm trong kho báu” số trước, chúng ta đã cùng tìm hiểu về hoạt động của Chiêu Anh Các, một Tao đàn nổi tiếng ở Hà Tiên (Kiên Giang) vào thế kỷ 18. Chương trình hôm nay của Ban VHNT (VOV6) tiếp tục đi vào cụ thể những dấu ấn và ảnh hưởng của Chiêu Anh Các trong tâm thức tiếp nhận của đương thời và hậu thế.

Câu chuyện nghệ thuật và nghệ sĩ vốn xuất hiện thường trực trong sáng tác của nhà văn Lê Anh Hoài. Bởi vậy, không ngạc nhiên khi trong “Nỗi sợ” hay “Đục kén chui ra”, người đọc người nghe được tiếp cận với một thế giới nghệ thuật và nghệ sĩ một cách đậm đặc và cận cảnh. Thế giới ấy không hề hoa mĩ mà thực tế đến trần trụi. Đằng sau những lời có cánh là những toan tính bán mua, là gánh nặng cơm áo gạo tiền. Nhân vật nghệ sĩ trong sáng tác của anh cũng không phải là những người chân không chạm đất. Họ cũng có những phút lóe sáng trời cho. Nhưng nhiều hơn vẫn là mồ hôi đổ xuống, là thất bại nhiều hơn thành công và những chua chát đôi khi không ai hay ai biết. Chỉ có người trong cuộc mới có thể hiểu được. Và giữa bao nhiêu nỗi sợ, người nghệ sĩ chỉ có thể chọn không sợ gì. Vì khi sợ, người ta không thể làm được gì cả. Càng không thể “đục kén chui ra” để làm nghệ thuật.
Truyện của Lê Anh Hoài không dễ đọc, đọc phát thanh lại càng khó. Những trúc trắc trong câu từ hoặc sự miên man đắm chìm trong suy tưởng của nhân vật chính khiến truyện “không nệ vào sự kiện mà giống như một ý niệm”, “nghiêng về biểu đạt hơn là mô tả” (chữ dùng của nhà phê bình Phùng Gia Thế). Tuy nhiên, có lẽ chúng ta nên coi đây là một thử thách trong việc thưởng thức một thể nghiệm nghệ thuật ngôn từ của người nghệ sĩ đa tài này. (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)

Truyện kể về những tên làng, tên đất, tên sông vùng cuối sông Thu Bồn đất Quảng. Chợ đầu mối Bàn Thạch, bến sông Bàn Thạch là nơi giao thương hàng hóa vùng đồng bằng, biển và rừng. Lại cũng là đầu mối nguồn hàng từ ghe bầu tận Bình Thuận ra. Rồi những bạn ghe bầu giỏi hát bội. Những đoàn cải lương, thời trước chiến tranh vào đoạn ác liệt…Bà Hợi- vốn là cô gái nhan sắc vùng đất này, bỏ nhà theo một kép hát cải lương, có bầu rồi sinh con trong nỗi ê chề, đơn độc, suýt sản hậu, sinh tật nói lịu. làm nghề gánh bán muối dạo mưu sinh. Nhân vật của hơn nửa thế kỷ trước, qua chiến tranh, ly loạn, qua bao vật đổi sao
dời, vừa thực vừa lẩn khuất vào dân gian, những nhớ quên, hồi ức, những chuyện kể, câu hát, ca dao… Bà Hợi bán muối dạo nói lịu và những người cùng thời. Họ hiện lên đứt nối qua hồi ức, qua kiểu điền dã sưu tầm dấu xưa một vùng đất. Người xưa đâu? Người của cái chợ quê, với kiểu hàng hóa thời giao thương, sản xuất, đơn giản năm, bảy chục năm trước ấy đâu rồi? Một câu hỏi như thâm trầm vọng trong tâm thức nhà văn và bạn đọc. Không phải tiếc nuối, việc hồi cố về cảnh sống, sinh hoạt, về hình bóng người “muôn năm cũ” như một lưu giữ cần thiết của ký ức, nó như cái mạch ngầm nuôi dưỡng hồn người.
Truyện ngắn “Truyền thuyết về người đàn bà bán muối dạo” của nhà văn Lê Trâm nhẹ nhàng, thú vị khơi gợi trong chúng ta một dấu xưa, một bóng hình đã qua, đã xa trong hoài niệm; một không gian khác, đời sống khác không bao giờ mất đi trong mỗi con người. (Lời bình của BTV Vân Khánh)
Sự ra đời và phát triển của các Tao đàn thơ ca, các văn hội có những đóng góp quan trọng vào diện mạo của giai đoạn văn học trung đại. Không chỉ là sự tập hợp, cổ động phong trào sáng tác, từ các Tao đàn, văn hội này đã nổi lên những xu hướng thơ văn, những tên tuổi tinh hoa, trụ cột và làm rạng danh nền văn học dân tộc. Chương trình “Tìm trong kho báu” hôm nay của Ban VHNT (VOV6) đi vào xuất xứ và bản sắc của Chiêu Anh Các, một Tao đàn nổi bật ở đất phương Nam thế kỷ 18.

Các bạn thân mến, qua lời kể của nhân vật tôi và em, người thương bệnh binh Vũ Văn Tuấn dần hiện ra góc cạnh và sinh động. Em và Tuấn tình cờ gặp nhau trên một chuyến xe về thăm nhà. Em chứng kiến cảnh Tuấn bị cơn co giật rồi phải vào viện cấp cứu. Định mệnh đã sắp đặt khiến hai người gặp lại nhau lần thứ 2 và em bước vào cuộc đời của Tuấn, bước vào ngôi nhà có những linh hồn người lính. Từ tâm lý tò mò của tuổi trẻ, em hiểu hơn về tính cách, tâm tư tình cảm trong con người Tuấn. Em là những chứng kiến nỗi đau đớn cả thể xác và tinh thần của người thương bệnh binh. Vết thương chiến tranh và sự hi sinh của đồng đội đã hành hạ Tuấn biết bao năm. Có lẽ xuất phát từ tình thương và sự cảm mến tâm hồn, tính cách của Tuấn mà em đã nảy sinh tình cảm với anh. Nhưng vì di chứng chiến tranh trong cơ thể mà Tuấn đã từ chối em và bỏ đi. Sau 10 năm kiên trì tìm kiếm hai vợ chồng em mới tìm được thông tin của Tuấn. Nhân vật người thương binh Vũ Văn Tuấn không được nhà văn thể hiện trực tiếp mà thông qua lời kể của em. Đằng sau mỗi người thương binh trở về từ chiến trường đều có một câu chuyện xúc động về sự sống và cái chết, về tình cảm đồng đội. 9 người lính chiến đấu anh dũng chống lại quân thù gấp hàng chục lần và rồi chỉ 8 người lính đã mãi mãi ngã xuống. Người lính còn sống duy nhất trở về với nỗi đau trong lòng và vết thương chiến tranh hành hạ cơ thể. Tuy vậy, chúng ta vẫn thấy những nét cao đẹp trong con người Tuấn như tài năng làm vườn hay dũng cảm từ chối tình yêu của em. Những cảnh miêu tả người lính chiến đấu hi sinh anh dũng trên chiến trường hay người thương binh bị hành hạ vì vết thương thật xúc động. Ngôi nhà thật đẹp với cây và hoa trở thành nơi nghỉ ngơi của linh hồn những người lính đã khuất. Các anh hy sinh nhưng hình ảnh các anh vẫn sống mãi trong lòng chúng ta. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)
Có những điều thời gian, tuổi tác không thể xóa nhòa. Với người lính, ký ức về chiến trường và đồng đội dường như mãi còn vẹn nguyên. Đã hơn 50 trôi qua từ ngày tỉnh Quảng Trị được giải phóng, thế nhưng hoài niệm về vùng đất gió Lào cát trắng vẫn còn ở đó trong tâm trí nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha. Với người chiến sĩ thông tin năm nào, Quảng Trị mãi là miền ký ức không thể nào quên.

Truyện ngắn "Thần cây thị" có cấu trúc xuyên không của quá khứ và hiện tại, trong đó tâm điểm là những mối tình không thỏa nguyện, không có cái kết đẹp. Mối tình được kể ở thời hiện tại là của Dim với Dương. Mối tình được kể ở thì quá khứ là của Người lính với cô Cung nữ. Dim là một cô gái đã có gia đình, nhưng chồng cô lại ngoại tình. Tình cờ cô gặp được Dương-một người đàn ông có trái tim ấm nóng, ân cần quan tâm chăm sóc cô. Dim rất muốn buông bỏ, phá tung mọi thứ để đến với Dương, nhưng dường như những phép tắc lễ giáo đã ngăn cản cô. Còn Người lính ít nhiều mang tâm lý tự ti, chỉ thầm yêu trộm nhớ cô Cung nữ mà không dám tỏ bày. Qua những cuộc đối thoại giữa Dim và Người lính, người đọc người nghe đã tỏ tường chuyện tình cảm của hai người, cũng như những khổ đau mà mỗi người phải gánh chịu. Tất cả cũng chỉ vì chữ “Tình”. Họ không thoát ra được, cả hai đều phải chạy trốn. Người lính và Cung nữ đã hóa mình vào cây thị, vào cỏ cây, tượng đá để tiếp tục nuôi dưỡng những khát khao chờ đợi. Hình ảnh tán lá thị cổ thụ cố vươn mình để che nắng cho pho tượng đá nhưng không thể che nổi là hình ảnh ẩn dụ. Đàn ông dù to lớn đến đâu, mạnh mẽ đến đâu cũng khó có thể chăm sóc, che chở cho người phụ nữ nhỏ bé trong suốt cả cuộc đời. Vì thế, hãy bày tỏ tình yêu với người mình yêu khi có cơ hội; hãy đến với họ bằng tất cả trái tim, yêu thương và thấu hiểu, nâng niu và trân trọng kẻo một lúc nào đó họ vuột khỏi tay ta mà ta không hay và có hối cũng không kịp. (Lời bình của BTV Vũ Hà)
Từ trước tới nay, trong hầu hết tư liệu cổ và quan niệm của các nhà nghiên cứu văn học trung đại đều cho rằng người đứng đầu Tao đàn nhị thập bát tú thời Hồng Đức là vua Lê Thánh Tông, hai vị phó nguyên súy được cho là hai danh thần Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận. Thế nhưng, lật giở lại, trong sách “Kiến văn tiểu lục”, một tác phẩm được nhà bác học Lê Quý Đôn soạn xong vào năm Cảnh Hưng thứ 38 (năm 1777) có ghi lại rằng: “Sái Thuận lúc đầu là Tao đàn sái phu sau được bổ sung làm Phó nguyên suý”. “Kiến văn tiểu lục” được xem là một tác phẩm có giá trị về văn học, địa lý, lịch sử và hình thái ý thức người Việt xưa qua các thời Lý, Trần, Lê. Căn cứ vào tính xác đáng của tác phẩm này, có thể thấy có một nhân vật tên là Sái Thuận từng giữ chức Phó nguyên súy hội Tao đàn dưới thời vua Lê Thánh Tông
Hàng năm, cứ gần đến ngày 27/7, trong lòng mỗi chúng ta lại trào dâng những xúc động khôn nguôi về bao thế hệ cha anh đã đổ xương máu cho nền độc lập tự do của dân tộc. Mỗi tấc đất quê hương, mỗi ngọn núi con sông đều in dấu những chiến công, in dấu cả những vinh quang và những đắng cay mất mát. Và chúng ta không bao giờ quên Quảng Trị, mảnh đất anh hùng bất khuất và cũng đầy sâu nặng nghĩa tình đã cùng bao mảnh đất quê hương khác băng mình qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của thế kỷ 20. Nhân dịp tròn 50 năm chiến dịch Thảnh Cổ 1972 – 2022, chương trình Đôi bạn văn chương lần này xin được gửi tới quý vị thính giả một cuộc trò chuyện mang tên: Những bài thơ Quảng Trị

Bằng nhịp điệu nhanh, gãy gọn, câu chuyện xoay quanh nhân vật Thào, một thanh niên người Mông quyết tâm lập nghiệp với nghề nuôi cá hồi bằng nguồn nước suối trên vùng rẻo cao của quê hương. Bên cạnh việc khắc họa hoài bão đẹp của Thào, tác giả cũng đã đi sâu vào những khó khăn, trở ngại, vất vả và cả những thất bại trên bước đường lập nghiệp của nhân vật. Đó là kết quả của thực tế, quan sát, nỗ lực trong việc tìm hiểu kỹ càng về đề tài khai thác. Chi tiết là thế mạnh của ngòi bút Đặng Thùy Tiên nhưng việc dày đặc chi tiết mà thiếu đặc tả về mặt cảm xúc, những chuyển tiếp tình huống đôi lúc khiến người đọc, người nghe thấy thiếu đi những quãng lặng cần thiết cho sự ngẫm nghĩ về chiều sâu tác phẩm. Nhưng cũng không thể yêu cầu quá cao bởi dường như dụng ý của tác giả là kể về một lát cắt trong bước đường lập nghiệp của nhân vật Thào, đồng nghĩa với việc đẩy nhanh những xung đột, cao trào bằng các diễn biến gấp gáp, đan xen nhằm giải quyết dứt điểm tình huống câu chuyện. Về cơ bản “Chuyện của Thào” vẫn thể hiện được những đặc trưng của một truyện ngắn hoàn chỉnh, và quan trọng hơn, hứa hẹn sự nỗ lực, khát khao trong tìm tòi lối viết, đề tài viết của bản thân tác giả. (Lời bình của BTV Võ Hà)
Nhiều vị hoàng đế, nho tướng cũng như võ tướng thời thịnh Trần đã để lại những áng thơ có giá trị cao về mặt nội dung, nghệ thuật, nêu cao được cảm hứng yêu nước, cảm hứng tự hào dân tộc. Ở một khía cạnh khác, cho dù đang ở ngôi cao chín bệ hay khi chọn ẩn dật chốn sơn lâm, họ đều thể hiện con người nghệ sĩ với những trăn trở về nỗi niềm nhân sinh

Câu chuyện mà nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế gửi tới chúng ta lấy bối cảnh của một đời sống đô thị đương đại với những bar rượu, những cô nàng ăn chơi xinh đẹp, những mối tình dở dang không đầu không cuối, những gã lãng tử lang thang như nhân vật Tôi. Tất cả đều không có một cái tên rõ ràng, từ hai nhân vật chính cho tới những nhân vật phụ, cùng lắm chỉ được gọi bằng những cái tên lâm thời, rất ngẫu hứng như Cục Mỡ, Đầu Trọc. Bầu không khí của truyện tạo ra vì thế có chất gì hơi kỳ dị, bí ẩn, nửa hư nửa thực, đôi lúc có cảm giác tác giả cố tình cường điệu hóa ít nhiều, từ cách ăn chơi của cô gái cho đến những khắc họa về các nhân vật khác. Cô gái có lẽ là nhân vật tạo ra những cảm xúc trái ngược cho mỗi người đọc. Ngoại hình của nàng xinh đẹp đã là một nhẽ, nhưng về phẩm chất thì không hẳn tốt mà cũng không hẳn xấu. Nàng không làm hại ai nhưng lại ăn chơi quá mức xa hoa, sẵn sàng bán thân để đổi lấy chiếc đầu đĩa máy hát mang thương hiệu Thorenze; nàng đang nợ vài chục ngàn Euro nhưng sẵn sàng đập tan hàng loạt chai rượu có giá mỗi chai ít nhất một chỉ vàng. Còn với nhân vật xưng Tôi, ngoài hành động nghĩa hiệp cứu cô gái thoát khỏi đám giang hồ ở phần đầu truyện, cho đến khi kết thúc tác phẩm, ta thấy anh ta cũng chỉ là người hành động phải đạo, thuận theo hoàn cảnh đưa đẩy, chứ cũng không biểu hiện gì nhiều hơn về bản thân. Anh hoàn toàn không có ý định tác động để thay đổi cuộc sống của cô gái theo một hướng nề nếp hơn, bình an hơn. Anh tự nhận mình chỉ là một loài thú hoang cô độc, một lãng tử có thói quen độc hành phố khuya. Truyện có một kết thúc mở khi nhân vật Tôi và cô gái bất ngờ chia tay nhau do cô gái sợ đám giang hồ truy đuổi, hai người còn chưa kịp chào nhau hay hò hẹn thêm điều gì. Ngày mai, họ có thể gặp lại mà cũng có thể không bao giờ nữa, như chính nhan đề truyện ngắn mà tác giả đặt tên. Tác phẩm không đưa ra một thông điệp thật rõ ràng nhưng lại để một dư âm vương vấn, bâng khuâng cho mỗi người đọc về những bộn bề trong đời sống đô thị đương đại, về những đúng sai đôi khi thật khó cắt nghĩa cho mỗi phận người. (Lời bình của BTV Đỗ Anh Vũ)