
Thưởng thức truyện ngắn “Hoa sưa đỏ” người đọc, người nghe như đang đi vào không gian rừng núi thăm thẳm với những sắc màu thanh âm, mùi vị độc đáo. Đó là một “ngoại cảnh” đặc sắc thường ít xuất hiện trong văn xuôi đương đại.Thiên nhiên ban tặng cho núi rừng Việt Bắc vẻ đẹp kỳ vĩ, quyến rũ, thơ mộng, linh thiêng và huyền bí. Nơi đây, có những dãy núi đá trầm mặc quanh năm ăm ắp sương bay, biết bao cánh rừng đại ngàn tầng tầng lớp lớp phô diễn cảnh sắc bốn mùa và những dòng sông rì rầm khúc ca muôn đời dưới thung sâu... Cùng với thiên nhiên hùng vĩ thì lịch sử, văn hóa, đời sống, phong tục, tập quán… từ bao đời đã tạc khắc, ngấm vào máu thịt đồng bào các dân tộc trên non cao, trở thành nguồn năng lượng tự nhiên phong phú, dồi dào để Nhà văn Bùi Thị Như Lan, người con của dân tộc Tày, sinh ra, lớn lên trong cảnh sắc nên thơ của núi rừng, đã thắp sáng những trang văn bằng chính thiên nhiên và nền văn hóa đậm đà bản sắc. Truyện ngắn được viết bằng ngôn ngữ tinh túy, chắt lọc, văn phong giàu xúc cảm, lối viết tự sự, thấm đẫm nhân văn, nhà văn đã dẫn chúng ta đến vùng núi Phja Kháo, nơi có gia đình người chiến sĩ công an Lý Thàng. Qua từng trang viết nhẹ nhàng mà sâu sắc, nhà văn đã khắc họa hình tượng người chiến sĩ công an hy sinh dũng cảm, giữ gìn cánh rừng gỗ sưa quý hiếm, giữ lại văn hóa của dân tộc, bởi vì: “Gỗ sưa đỏ trên núi Phja Kháo là cây mang hồn thiêng của núi rừng và là linh hồn của mỗi người dân trong vùng. Thế nên cây sưa đỏ quí lắm, được thế hệ ông bà, con cháu nhiều đời gìn giữ cẩn trọng.”. Truyện ngắn “Hoa sưa đỏ” để lại xúc cảm sâu sắc trong lòng độc giả về một lối viết rất riêng, không trộn lẫn của nhà văn, mà ở đó hình tượng người chiến sĩ công an “ Vì nước quên thân, vì nhân dân phục vụ” được khắc họa đậm nét, thông qua xúc cảm tự sự người vợ của đồng chí công an Lý Thàng, người đọc, người nghe như nghe rõ tiếng thở dài buốt nhói, lời đau xót… của những bà mẹ, người vợ có chồng là công an hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Sự hy sinh lặng thầm của người chiến sĩ công an Lý Thàng trong truyện “Hoa sưa đỏ” đã phản ánh thực tế những cống hiến, hy sinh của nhiều cán bộ, chiến sĩ công an trong công cuộc đấu tranh với tội phạm, giữ gìn sự bình yên cho nhân dân. (Lời bình của BTV Vân Khánh)

Truyện ngắn “Sinh ra từ mưa” của nhà văn Lê Vũ Trường Giang viết về Hoàng Cao Khải, một nhân vật có thật trong lịch sử. Vẫn với văn phong thường thấy, tác giả khiến người đọc bước vào thế giới của những mơ hồ mộng mị của nhân vật chính. Hoàng Cao Khải lớn lên trong nỗi hoài nghi về người cha ruột của mình. Sau cùng, nhân vật chính cũng có được câu trả lời nhưng lại không muốn tin đó là sự thật, nhất khi cha ruột của ông là một kẻ chống lại triều đình. Xuyên suốt tác phẩm có thể nhặt ra một vài sự kiện chính như thăm miếu Mai Thánh, thành lập đội Tuần Cảnh, trở thành Phó vương Bắc Kỳ… nhưng về cơ bản, “Sinh ra từ mưa” vẫn là những dòng suy nghĩ miên man của nhân vật Hoàng Cao Khải: giữa chối từ và chấp nhận, giữa khao khát muốn khẳng định một điều gì đó và sự côi cút, lạc loài… Giống như nhan đề của truyện ngắn, “Sinh ra từ mưa” cũng đem đến cho độc giả cảm giác về sự mịt mờ, một điều còn bị che lấp, thậm chí phong kín, một bí mật mà người trong cuộc hẳn sẽ đào sâu chôn chặt. Những đoạn đứt – nối trong mạch kí ức rời rạc của nhân vật “tôi” cũng giống như những hạt mưa giọt dài giọt ngắn rơi xuống những mênh mông buồn của kiếp người.
Nhà thơ Vân Long, sinh năm 1934, nguyên quán ở Khoái Châu (Hưng Yên), sinh trưởng và gắn bó với Hà Nội, từng được ghi nhận qua nhiều giải thưởng văn học thủ đô. Ông từng là nhạc công violon nhà hát Giao hưởng Hợp xướng – Ca múa kịch Việt Nam, có gần 10 năm làm Biên tập thơ NXB Hội Nhà văn và từng là Chủ tịch Hội đồng thơ - Hội Nhà văn Hà Nội. Trong một bài thơ, nhà thơ Vân Long viết: “Tôi loài cá ăn chìm/ Thơ và đời lặng lẽ”. Từ ý thơ đó, nhà thơ Đặng Huy Giang đã viết về một hành trình thơ với suy tưởng: “Nhà thơ Vân Long: Một loài cá ăn chìm”:
Mười thế kỷ văn học trung đại nước ta cũng là quãng thời gian ghi dấu ấn một nền khoa bảng bề thế. Nhiều tác giả danh tiếng đồng thời là những danh nho đỗ đạt cao ra giúp nước giúp đời. Qua từng triều đại, cùng với các vị hoàng đế, các vị danh nho này góp phần gây dựng phong trào sáng tác và xướng họa thơ văn trong cung đình. Chương trình hôm nay nhận diện một số đặc điểm của dòng văn học chủ lưu này của giai đoạn trung đại.
Nhân loại trong lịch sử phát triển hàng ngàn năm đã cùng nhau vượt qua bao thử thách gian nan, bao biến cố lớn lao trong hành trình tiến đến cuộc sống văn minh hiện đại. Và cho đến thập niên thứ ba của thế kỷ 21 này, loài người vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn như thiên tai, bệnh dịch và đặc biệt là chiến tranh. Cuộc chiến tranh gần 2 tháng qua giữa Nga – Ukraine đã khiến cho bao con người thiệt mạng, bao nhiêu người phải ly hương, bao trẻ em không được đến trường, bao công trình xây dựng trở thành hoang phế, đổ nát. Trước những thảm cảnh này, với tất cả mọi con người có lương tri trên trái đất, chúng ta không ai mong muốn. Chương trình Đôi bạn văn chương lần này, trong một bối cảnh thời sự đặc biệt như vừa kể trên, xin gửi tới quý vị thính giả một cuộc trò chuyện với tên gọi: Cảm hứng phản chiến trong dòng chảy văn học Đông Tây, để mỗi chúng ta một lần nữa có thể nhận thấy, phản đối chiến tranh là một tình cảm có trong tinh thần của tất cả các dân tộc.

Nhân vật Huyên trong câu chuyện đi tìm rừng xưa cũng là tìm một thời tuổi trẻ của mình. Sau khi chiến tranh kết thúc được 10 năm, Huyên cũng như biết bao thanh niên thành thị tuổi trẻ háo hức về các vùng quê để xây dựng lại quê hương. Cô bén duyên với chàng trai tên Rừng Đước có biệt danh là Tazan. Hai người đã có một đêm gắn bó với nhau. Hoàn cảnh đẩy đưa, Huyên cùng gia đình vượt biên qua Mỹ và mấy chục năm sau cô mới trở lại quê hương. Con trai của Huyên với Đước là Hoài Lâm giờ là một kĩ sư nông nghiệp tham gia dự án phục hồi rừng ngậm mặn Cần Giờ. Thấp thoáng trong tình yêu của Huyên và Đước là mối liên hệ gắn bó giữa con người và rừng, giữa con người và quê hương. Cuộc sống của người dân miền Đông Nam Bộ với tính cách chất phát, dũng cảm, khẳng khái thể hiện sinh động qua nhân vật Nguyễn Rừng Đước. Từ đời ông nội Đước, cha của Đước, đời Đước rồi sau này là cậu con trai trở thành một mạch nguồn không ngừng gắn bó với rừng cây. Rừng đước ngậm mặn trở thành nơi sinh sống, chiến đấu của con người trong chiến tranh, là cái nôi cho sự sống phát triển. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chất độc da cam của đế quốc Mỹ đã hủy hoại biết bao rừng cây, gây ra di chứng chiến tranh cho hàng vạn người dân Việt Nam. Nhưng sự sống thì luôn mãnh liệt, thiên nhiên thật diệu kỳ, chỉ vài chục năm thôi rừng đước lại hồi sinh. Tiến sĩ lâm nghiệp Hoài Lâm, kết quả của mối duyên tình giữa Huyên và Đước chính là mầm cây sẽ gây dựng lại khu rừng mới. Một câu chuyện về cuộc sống người dân thời hậu chiến được tác giả viết nhẹ nhàng, đậm phong vị Nam Bộ và giàu cảm xúc.
Trong nền thơ ca dân tộc, lãnh tụ và lãnh đạo Đảng nhà nước luôn là một đề tài thiêng liêng, là cảm hứng trong ngòi bút của nhiều thế hệ sáng tác. Các nhà thơ lớn như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông…qua những trang thơ giàu cảm xúc đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật từ nguyên mẫu cuộc đời của lãnh tụ Hồ Chí Minh và bao thế hệ lãnh đạo Cách mạng Việt Nam trên nhưng bước đường dựng xây và đi lên của đất nước. Chương trình đêm nay của Ban VHNT (VOV6) – Đài Tiếng nói Việt Nam dành toàn bộ thời lượng để lật giở lại những tiếng thơ tâm tình lắng đọng ấy.

Câu chuyện dẫn dắt người đọc, người nghe đến với gia đình bà cô trong một tình huống khá éo le: người cô được trả về nhà sau những ngày điều trị ở bệnh viện, không còn hy vọng nữa. Không khí u ám bao quanh ngôi nhà, lây lan sang cảm xúc đau xót, bất lực của người em trai, người cháu gái…Duy nhất chỉ có ông chồng, với vẻ lạnh lùng, vô cảm và cứng nhắc, ông không quan tâm đến những gì đang diễn ra. Ông đang sắp đặt cho sự ra đi của vợ ông. Chúng ta có cảm giác bức bối, ngột ngạt bởi không khí ấy và cả thái độ của người chồng. Nhưng, thật bất ngờ, khi Liên – đứa cháu nội của người cô trở về thì mọi việc thay đổi. Liên vội vàng đỡ bà dậy, cho bà ăn từng miếng bánh, uống từng thìa sữa và dọn hết những đồ vật sặc sỡ trong căn phòng. Liên tin bà sẽ sống. Tia sáng ấy bắt đầu le lói khi bà ăn hết cái bánh, uống sữa, chứ không nằm bất động như khi Liên chưa xuất hiện. Hình ảnh chiếc mũ có thêu hai chứ “Điền Hương” là nút thắt thú vị. Đó là câu hỏi mà nhân vât tôi băn khoăn đi tìm. Câu chuyện ghen tuông của vợ chồng người cô bắt đầu hé lộ, người dượng vốn đào hoa, lãng mạn mà cô thì ghen tuông vô cùng. Vì thế mà họ đã xảy ra những tình huống trớ trêu, cười ra nước mắt. Cái mũ khắc tên Điền Hương cũng khiến người cô nổi đoá nhưng đó là trò nói lái vui đùa của ông dượng mà thôi. Vì thế mà chúng ta đã hiểu vì sao mà một người bệnh gần chết lại tuyệt thực, chỉ khi đứa cháu gái xuất hiện, bà lại ăn và tỉnh táo hơn. Đó là phép thử của bà đối với chồng dẫu cả hai tuổi đã cao, cháu con đề huề. Câu chuyện gợi cho chúng ta cảm nhận rõ hơn về mối quan hệ gia đình với những tình huống bi hài, vui buồn lẫn lộn. Đó cũng là bức tranh đa sắc màu mà mỗi gia đình đều có. Điều đọng lại chính là lòng vị tha, bao dung, san sẻ…đó mới là bến đỗ bình yên sau những sóng gió cuộc đời. (Lời bình của BTV Vân Khánh)
Theo các tư liệu lịch sử, Danh sĩ Đỗ Nhuận từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình như: Đông các Hiệu thư, Hàn lâm viện Thị độc, Thượng thư, Đông các đại học sĩ. Năm 1495, vua Lê Thánh Tông sáng lập Hội Tao đàn nhị thập bát tú, nhà vua đương nhiên là Đô nguyên soái, Đỗ Nhuận và Thân Nhân Trung được phong làm Phó nguyên soái, mời dự các buổi bình thơ của vua. Nếu Danh sĩ Thân Nhân Trung nổi tiếng với câu nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì Quan Đông các đại học sĩ Đỗ Nhuận đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất dưới thời vua Lê Thánh Tông. Ông sinh năm 1446, người xã Kim Hoa, huyện Kim Hoa, thừa tuyên Kinh Bắc, nay thuộc thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa (Mê Linh - Hà Nội). Đánh giá về Danh sĩ Đỗ Nhuận, nhà sử học Phan Huy Chú xếp ông là một trong mười tám người phò tá có công lao, tài đức thời Lê sơ. Nhóm sử quan biên soạn “Đại Nam nhất thống chí” ghi nhận Đỗ Nhuận là một trong những nhân vật tiêu biểu dưới thời Lê của tỉnh Bắc Ninh xưa.

“Những gì thuộc ngòi bút Nam Cao luôn luôn mang đặc trưng của lối viết Nam Cao” – Đó là nhận định của Nhà Nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân khi giới thiệu về thế giới chữ nghĩa chưa mấy ai biết tới của cây bút hiện thực xuất sắc của nền văn học nước ta. Truyện ngắn “Áo vải” được in lần đầu trên tuần báo Truyền bá, số 170, ra ngày 29/03/1945, cách đây gần 80 năm, đã bộc lộ cái nhìn thiện cảm đầy trân trọng của Nam Cao đối với “người nhà quê”. Lấy bối cảnh một gia đình nhà buôn từ thành phố Cảng tản cư về làng quê tránh bom đạn chiến tranh, một cách đầy tự nhiên, chân thật, qua những biến cố bất ngờ và đau thương của số phận nhân vật, truyện ngắn “Áo vải” lần tìm lại những nét đẹp trong bản chất và ứng xử của con người nông thôn. Nghèo khó phải đi ở cho nhà giàu, chị Sen, tức chị Thiêm vì thương cô Ngọc bị anh trai, chị dâu bạc đãi mà cứu giúp, che chở. Trong hoàn cảnh không lấy gì làm dư giả, anh chị Thiêm vẫn sẵn sàng giang tay nuôi nấng hai đứa con của cô Ngọc, tức bà Hoan Ký. Kể cả khi hai đứa trẻ về lại thành phố rồi sinh lòng phụ bạc những ân nhân của mình, chị Thiêm vẫn thương yêu và cưu mang khi gặp lại chúng trong hoàn cảnh khốn khó. Không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, tình thương, nghĩa tình con người sáng lên qua những trang văn viết về “những người nhà quê chỉ mặc áo vải suốt đời, nhưng còn đáng trọng bằng mười kẻ mặc lụa là gấm vóc”. Nhà văn Nam Cao đã viết về điều đó bằng một ngòi bút nhẹ nhàng, tinh tế như thể là sự mặc nhiên ở đời. Cũng như với các tác phẩm để đời được nhiều người biết đến, nhà văn thể hiện tài quan sát, lắng nghe và diễn tả từng nét ngoại hình, hành vi, giọng điệu nhân vật. Ông đã tạo hồn cốt cho câu chuyện theo mách bảo của kinh nghiệm và cả lương tri con người.

Chiến tranh Việt Nam là đề tài thu hút nhiều thế hệ cầm bút, dù khi cuộc chiến đã đi qua nhiều năm. Người sót lại của rừng cười là truyện ngắn lấy bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cả bốn cô gái canh gác kho quân nhu giữa đại ngàn Trường Sơn đều mắc căn bệnh mà khoa học gọi là Histeria, một thứ bệnh rối loạn thần kinh mất cân bằng tâm lý. Chỉ có Thảo, nhân vật nữ chính trong truyện là người duy nhất không mắc bệnh. Cô chỉ biết buồn tủi, xót thương cho các chị của mình. Và rồi cả 4 người con gái trong trắng ấy đều ngã xuống sau một trận đánh mà chưa một lần kịp yêu ai. Người duy nhất sót lại của rừng cười được trở về thành phố và vào học năm thứ nhất khoa Văn. Nhưng Thảo đã không còn vẻ đẹp căng tràn sức sống với mái tóc mượt dài chấm gót như ngày nào, thay vào đó là thân hình gày gò với mái tóc xơ xác. Thành, người yêu của Thảo ngày càng trở nên xa cách với cô dù đã chờ đợi ngày Thảo trở về và ra đón cô tại ga tàu. Thảo muốn giải phóng cho Thành nên đã nghĩ ra cách hàng ngày tự gửi thư cho mình để Thành nghĩ rằng Thảo đã có người yêu mới. Và rồi sự kiện Thành kết hôn với người con gái khác đã đẩy bi kịch của Thảo lên đỉnh điểm. Cô vượt qua được những tháng ngày gian khổ ác liệt ở Trường Sơn nhưng rồi lại mắc căn bệnh của chính những đồng đội ngày xưa ngay giữa thời bình. Chiến tranh tàn phá và lấy đi quá nhiều điều của con người, ngay cả một ước mơ bình dị nhỏ nhoi cũng không có được. Truyện ngắn của Võ Thị Hảo đặt ra một cách nhức nhối về số phận của những người phụ nữ trong chiến tranh và sau chiến tranh, mỗi thời là một bi kịch riêng. Thiên truyện ngắn đầy xúc động thêm một lần nữa là lời tố cáo đanh thép những tội ác của chiến tranh, đồng thời nhắc nhở mỗi con người đang sống phải biết trân trọng và yêu thương nhiều hơn những người phụ nữ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Không chỉ thế, họ còn tiếp tục những hy sinh lặng lẽ ngay trong cả thời bình.
Tiếp tục tìm hiểu về Tao đàn nhị thập bát tú thời vua Lê Thánh Tông, chương trình tuần này của Ban VHNT (VOV6) đi vào chính sử để giải mã hoạt động và sức ảnh hưởng của hội nhóm thi ca mang tính chất cung đình dưới một triều đại thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta.
Bình Nguyên Trang là một cây bút sáng tác thuộc thế hệ 7X đã sớm khẳng định được tiếng nói của mình trong làng văn. In tập thơ đầu tay năm 18 tuổi, đoạt giải Nhất cuộc thi Tác phẩm tuổi xanh vừa tròn 20 tuổi, chị là một trong những thành viên đầu tiên của Hội bút Hương đầu mùa báo Hoa học trò, ấn phẩm có lượng học sinh sinh viên theo dõi đạt vào hàng kỷ lục trong thập niên 90 của thế kỷ trước. Đạt giải cao với văn xuôi nhưng thơ mới đích thực là hồn cốt của Bình Nguyên Trang. Nhiều lứa học sinh sinh viên mê đắm và đã chép vào sổ tay hàng trăm bài thơ của chị. Bình Nguyên Trang là người đã giữ được cho mình một nguồn thơ bền bỉ với chiều dài hơn một phần tư thế kỷ qua. Chương trình Đôi bạn văn chương lần này xin gửi tới quý vị thính giả một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Bình Nguyên Trang với tên gọi: Những bông hoa nở một lối về

Ngôn ngữ truyện ngắn “Tiếng hát lau sậy” của tác giả Bảo Thương đẹp, giàu chất thơ, giàu chất liên tưởng so sánh, chuyển tải được vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của nghệ thuật và vẻ đẹp của con người. Nghe xong truyện, thính giả nhắm mắt lại và mường tượng ra bức tranh đẹp, nhưng buồn phác họa nỗi niềm của người phụ nữ, khi họ ý thức được tiếng gọi của bản ngã, sống hết mình với bản ngã. Chị, một người đàn bà ngoài ba mươi tuổi, mang “vẻ đặm đặm của gái một con một thời xinh đẹp” và có một giọng hát hay “Tiếng hát trong và tròn, lời ca sáng và rõ, vành vạnh như vầng trăng thu, soi đến cả lớp li ti của từng chiếc lông trên mắt lá lau vào những độ rằm”. Song, Tiếng hát lau sậy là tiếng hát buồn của người đàn bà đẹp, tài hoa, khao khát tự do và tình yêu; khao khát được cống hiến giá trị nghệ thuật. Đó còn là tiếng lòng của con người nói chung luôn mong muốn vươn tới thứ tuyệt đích nhất của đời sống: là tự do, là tình yêu, là quyền được thể hiện mình, quyền được cống hiến tài năng, được sáng tạo. Cái đẹp phải được ươm mầm. Cái đẹp phải có môi trường cho nó phát triển. Cái đẹp phải được trân trọng, nâng niu, giữ gìn. Cái đẹp có quyền được hưởng hạnh phúc. Song, ở đây, cái đẹp bị vùi dập. Tiếng hát chỉ dám cất lên ở bờ lau, bãi sậy, cánh đồng, khúc sông, bến nước …Chị thỏa thuê hát khi vắng người chồng, còn khi anh ta về thì im bặt. Hát giữa kiếp cỏ cây thì dễ, hát giữa kiếp người mới khó làm sao? Làm sao để bảo vệ quyền được sống, được ca hát, được cống hiến tài năng? Hay nói cách khác, làm sao, để cái đẹp được khẳng định, đề cao, trân trọng. Và cái đẹp rồi sẽ trôi dạt về đâu? Kết truyện nhân vật kể chuyện xưng “Tôi” hỏi mẹ: “Làm sao biết được chỗ nào có bông tốt mẹ ơi?”. Đó là câu hỏi mở, làm day dứt lòng người.