
Câu chuyện dẫn dắt người đọc, người nghe đến với gia đình bà cô trong một tình huống khá éo le: người cô được trả về nhà sau những ngày điều trị ở bệnh viện, không còn hy vọng nữa. Không khí u ám bao quanh ngôi nhà, lây lan sang cảm xúc đau xót, bất lực của người em trai, người cháu gái…Duy nhất chỉ có ông chồng, với vẻ lạnh lùng, vô cảm và cứng nhắc, ông không quan tâm đến những gì đang diễn ra. Ông đang sắp đặt cho sự ra đi của vợ ông. Chúng ta có cảm giác bức bối, ngột ngạt bởi không khí ấy và cả thái độ của người chồng. Nhưng, thật bất ngờ, khi Liên – đứa cháu nội của người cô trở về thì mọi việc thay đổi. Liên vội vàng đỡ bà dậy, cho bà ăn từng miếng bánh, uống từng thìa sữa và dọn hết những đồ vật sặc sỡ trong căn phòng. Liên tin bà sẽ sống. Tia sáng ấy bắt đầu le lói khi bà ăn hết cái bánh, uống sữa, chứ không nằm bất động như khi Liên chưa xuất hiện. Hình ảnh chiếc mũ có thêu hai chứ “Điền Hương” là nút thắt thú vị. Đó là câu hỏi mà nhân vât tôi băn khoăn đi tìm. Câu chuyện ghen tuông của vợ chồng người cô bắt đầu hé lộ, người dượng vốn đào hoa, lãng mạn mà cô thì ghen tuông vô cùng. Vì thế mà họ đã xảy ra những tình huống trớ trêu, cười ra nước mắt. Cái mũ khắc tên Điền Hương cũng khiến người cô nổi đoá nhưng đó là trò nói lái vui đùa của ông dượng mà thôi. Vì thế mà chúng ta đã hiểu vì sao mà một người bệnh gần chết lại tuyệt thực, chỉ khi đứa cháu gái xuất hiện, bà lại ăn và tỉnh táo hơn. Đó là phép thử của bà đối với chồng dẫu cả hai tuổi đã cao, cháu con đề huề. Câu chuyện gợi cho chúng ta cảm nhận rõ hơn về mối quan hệ gia đình với những tình huống bi hài, vui buồn lẫn lộn. Đó cũng là bức tranh đa sắc màu mà mỗi gia đình đều có. Điều đọng lại chính là lòng vị tha, bao dung, san sẻ…đó mới là bến đỗ bình yên sau những sóng gió cuộc đời. (Lời bình của BTV Vân Khánh)
Theo các tư liệu lịch sử, Danh sĩ Đỗ Nhuận từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình như: Đông các Hiệu thư, Hàn lâm viện Thị độc, Thượng thư, Đông các đại học sĩ. Năm 1495, vua Lê Thánh Tông sáng lập Hội Tao đàn nhị thập bát tú, nhà vua đương nhiên là Đô nguyên soái, Đỗ Nhuận và Thân Nhân Trung được phong làm Phó nguyên soái, mời dự các buổi bình thơ của vua. Nếu Danh sĩ Thân Nhân Trung nổi tiếng với câu nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì Quan Đông các đại học sĩ Đỗ Nhuận đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất dưới thời vua Lê Thánh Tông. Ông sinh năm 1446, người xã Kim Hoa, huyện Kim Hoa, thừa tuyên Kinh Bắc, nay thuộc thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa (Mê Linh - Hà Nội). Đánh giá về Danh sĩ Đỗ Nhuận, nhà sử học Phan Huy Chú xếp ông là một trong mười tám người phò tá có công lao, tài đức thời Lê sơ. Nhóm sử quan biên soạn “Đại Nam nhất thống chí” ghi nhận Đỗ Nhuận là một trong những nhân vật tiêu biểu dưới thời Lê của tỉnh Bắc Ninh xưa.

“Những gì thuộc ngòi bút Nam Cao luôn luôn mang đặc trưng của lối viết Nam Cao” – Đó là nhận định của Nhà Nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân khi giới thiệu về thế giới chữ nghĩa chưa mấy ai biết tới của cây bút hiện thực xuất sắc của nền văn học nước ta. Truyện ngắn “Áo vải” được in lần đầu trên tuần báo Truyền bá, số 170, ra ngày 29/03/1945, cách đây gần 80 năm, đã bộc lộ cái nhìn thiện cảm đầy trân trọng của Nam Cao đối với “người nhà quê”. Lấy bối cảnh một gia đình nhà buôn từ thành phố Cảng tản cư về làng quê tránh bom đạn chiến tranh, một cách đầy tự nhiên, chân thật, qua những biến cố bất ngờ và đau thương của số phận nhân vật, truyện ngắn “Áo vải” lần tìm lại những nét đẹp trong bản chất và ứng xử của con người nông thôn. Nghèo khó phải đi ở cho nhà giàu, chị Sen, tức chị Thiêm vì thương cô Ngọc bị anh trai, chị dâu bạc đãi mà cứu giúp, che chở. Trong hoàn cảnh không lấy gì làm dư giả, anh chị Thiêm vẫn sẵn sàng giang tay nuôi nấng hai đứa con của cô Ngọc, tức bà Hoan Ký. Kể cả khi hai đứa trẻ về lại thành phố rồi sinh lòng phụ bạc những ân nhân của mình, chị Thiêm vẫn thương yêu và cưu mang khi gặp lại chúng trong hoàn cảnh khốn khó. Không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, tình thương, nghĩa tình con người sáng lên qua những trang văn viết về “những người nhà quê chỉ mặc áo vải suốt đời, nhưng còn đáng trọng bằng mười kẻ mặc lụa là gấm vóc”. Nhà văn Nam Cao đã viết về điều đó bằng một ngòi bút nhẹ nhàng, tinh tế như thể là sự mặc nhiên ở đời. Cũng như với các tác phẩm để đời được nhiều người biết đến, nhà văn thể hiện tài quan sát, lắng nghe và diễn tả từng nét ngoại hình, hành vi, giọng điệu nhân vật. Ông đã tạo hồn cốt cho câu chuyện theo mách bảo của kinh nghiệm và cả lương tri con người.

Chiến tranh Việt Nam là đề tài thu hút nhiều thế hệ cầm bút, dù khi cuộc chiến đã đi qua nhiều năm. Người sót lại của rừng cười là truyện ngắn lấy bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cả bốn cô gái canh gác kho quân nhu giữa đại ngàn Trường Sơn đều mắc căn bệnh mà khoa học gọi là Histeria, một thứ bệnh rối loạn thần kinh mất cân bằng tâm lý. Chỉ có Thảo, nhân vật nữ chính trong truyện là người duy nhất không mắc bệnh. Cô chỉ biết buồn tủi, xót thương cho các chị của mình. Và rồi cả 4 người con gái trong trắng ấy đều ngã xuống sau một trận đánh mà chưa một lần kịp yêu ai. Người duy nhất sót lại của rừng cười được trở về thành phố và vào học năm thứ nhất khoa Văn. Nhưng Thảo đã không còn vẻ đẹp căng tràn sức sống với mái tóc mượt dài chấm gót như ngày nào, thay vào đó là thân hình gày gò với mái tóc xơ xác. Thành, người yêu của Thảo ngày càng trở nên xa cách với cô dù đã chờ đợi ngày Thảo trở về và ra đón cô tại ga tàu. Thảo muốn giải phóng cho Thành nên đã nghĩ ra cách hàng ngày tự gửi thư cho mình để Thành nghĩ rằng Thảo đã có người yêu mới. Và rồi sự kiện Thành kết hôn với người con gái khác đã đẩy bi kịch của Thảo lên đỉnh điểm. Cô vượt qua được những tháng ngày gian khổ ác liệt ở Trường Sơn nhưng rồi lại mắc căn bệnh của chính những đồng đội ngày xưa ngay giữa thời bình. Chiến tranh tàn phá và lấy đi quá nhiều điều của con người, ngay cả một ước mơ bình dị nhỏ nhoi cũng không có được. Truyện ngắn của Võ Thị Hảo đặt ra một cách nhức nhối về số phận của những người phụ nữ trong chiến tranh và sau chiến tranh, mỗi thời là một bi kịch riêng. Thiên truyện ngắn đầy xúc động thêm một lần nữa là lời tố cáo đanh thép những tội ác của chiến tranh, đồng thời nhắc nhở mỗi con người đang sống phải biết trân trọng và yêu thương nhiều hơn những người phụ nữ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Không chỉ thế, họ còn tiếp tục những hy sinh lặng lẽ ngay trong cả thời bình.
Tiếp tục tìm hiểu về Tao đàn nhị thập bát tú thời vua Lê Thánh Tông, chương trình tuần này của Ban VHNT (VOV6) đi vào chính sử để giải mã hoạt động và sức ảnh hưởng của hội nhóm thi ca mang tính chất cung đình dưới một triều đại thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta.
Bình Nguyên Trang là một cây bút sáng tác thuộc thế hệ 7X đã sớm khẳng định được tiếng nói của mình trong làng văn. In tập thơ đầu tay năm 18 tuổi, đoạt giải Nhất cuộc thi Tác phẩm tuổi xanh vừa tròn 20 tuổi, chị là một trong những thành viên đầu tiên của Hội bút Hương đầu mùa báo Hoa học trò, ấn phẩm có lượng học sinh sinh viên theo dõi đạt vào hàng kỷ lục trong thập niên 90 của thế kỷ trước. Đạt giải cao với văn xuôi nhưng thơ mới đích thực là hồn cốt của Bình Nguyên Trang. Nhiều lứa học sinh sinh viên mê đắm và đã chép vào sổ tay hàng trăm bài thơ của chị. Bình Nguyên Trang là người đã giữ được cho mình một nguồn thơ bền bỉ với chiều dài hơn một phần tư thế kỷ qua. Chương trình Đôi bạn văn chương lần này xin gửi tới quý vị thính giả một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Bình Nguyên Trang với tên gọi: Những bông hoa nở một lối về

Ngôn ngữ truyện ngắn “Tiếng hát lau sậy” của tác giả Bảo Thương đẹp, giàu chất thơ, giàu chất liên tưởng so sánh, chuyển tải được vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của nghệ thuật và vẻ đẹp của con người. Nghe xong truyện, thính giả nhắm mắt lại và mường tượng ra bức tranh đẹp, nhưng buồn phác họa nỗi niềm của người phụ nữ, khi họ ý thức được tiếng gọi của bản ngã, sống hết mình với bản ngã. Chị, một người đàn bà ngoài ba mươi tuổi, mang “vẻ đặm đặm của gái một con một thời xinh đẹp” và có một giọng hát hay “Tiếng hát trong và tròn, lời ca sáng và rõ, vành vạnh như vầng trăng thu, soi đến cả lớp li ti của từng chiếc lông trên mắt lá lau vào những độ rằm”. Song, Tiếng hát lau sậy là tiếng hát buồn của người đàn bà đẹp, tài hoa, khao khát tự do và tình yêu; khao khát được cống hiến giá trị nghệ thuật. Đó còn là tiếng lòng của con người nói chung luôn mong muốn vươn tới thứ tuyệt đích nhất của đời sống: là tự do, là tình yêu, là quyền được thể hiện mình, quyền được cống hiến tài năng, được sáng tạo. Cái đẹp phải được ươm mầm. Cái đẹp phải có môi trường cho nó phát triển. Cái đẹp phải được trân trọng, nâng niu, giữ gìn. Cái đẹp có quyền được hưởng hạnh phúc. Song, ở đây, cái đẹp bị vùi dập. Tiếng hát chỉ dám cất lên ở bờ lau, bãi sậy, cánh đồng, khúc sông, bến nước …Chị thỏa thuê hát khi vắng người chồng, còn khi anh ta về thì im bặt. Hát giữa kiếp cỏ cây thì dễ, hát giữa kiếp người mới khó làm sao? Làm sao để bảo vệ quyền được sống, được ca hát, được cống hiến tài năng? Hay nói cách khác, làm sao, để cái đẹp được khẳng định, đề cao, trân trọng. Và cái đẹp rồi sẽ trôi dạt về đâu? Kết truyện nhân vật kể chuyện xưng “Tôi” hỏi mẹ: “Làm sao biết được chỗ nào có bông tốt mẹ ơi?”. Đó là câu hỏi mở, làm day dứt lòng người.
Sáng tác thơ ca là vậy – Trước tiên phải là những tiếng nói về chuyển động của thời đoạn mà nhà thơ đang sống và viết. Bên cạnh nghệ thuật ngôn từ, cảm xúc phải thật gần gũi, chạm được vào nỗi niềm, tâm trạng của độc giả đương thời, những trang thơ mới thực sự ở lại. Mới đây, từ Hải Phòng, nhà thơ Trần Ngọc Mỹ gửi về Tiếng thơ tập thơ mới của chị - “Những ngày không quên”. Chắt chiu trong những cảm xúc tức thời của Trần Ngọc Mỹ, đã có những câu thơ đẹp và một tâm thế đáng quý.
Về gốc gác ra đời của “Tao đàn nhị thập bát tú”, tương truyền năm Quý Sửu (1493) và Giáp Dần (1494) do thời tiết thuận hòa nên mùa màng tốt tươi, nhân đất nước thanh bình vua Lê Thánh Tông đặt 9 bài thơ ca ngợi chế độ, là: Phong niên, Quân đạo, Thần tiết, Minh lương, Anh hiển, Kỳ khí, Thư thảo, Văn nhân và Mai hoa. Từ đó nhà vua lập ra Tao Đàn và đưa 9 bài thơ này ra cho các triều thần dựa theo vần luật của chúng mà xướng họa ra tới 250 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm ca ngợi triều đại. Chính trong bài tựa tập thơ “Quỳnh uyển cửu ca”, vua Lê Thánh Tông đã đề cập tới cụm từ “Nhị thập bát tú”: “Lại tập hợp bọn học sĩ Thân, Đỗ, Ngô, Lưu, bọn văn thần Nguyễn, Dương, Chu, Phạm, gồm 28 người, ứng với 28 ngôi sao thuộc Nhị thập bát tú thay nhau cùng họa, có tới vài trăm bài, bài nào cũng lựa chữ công phu, dùng từ chắc chắn. Thơ làm xong dâng lên, lòng ta vui thích”.

Truyện ngắn đưa chúng ta trở về đất nước Việt Nam đầu thế kỉ XVI khi triều đình nhà Lê rối ren, các vua Lê ăn chơi xa đọa, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nhân vật tôi của câu chuyện, người nông dân tên Nguyên Hải vừa là nạn nhân vừa là chứng nhân của thời đại. Cuộc sống gia đình ông quá khổ cực. Hàng ngày được ăn để còn sống đã là hạnh phúc của gia đình Nguyễn Hải. Và cũng như hàng trăm, hàng ngàn người nông dân khác đang bế tắc, Nguyễn Hải bị đưa đẩy tham gia cuộc khởi nghĩa do Trần Cảo phát động. Với những người nông dân như Nguyễn Hải việc tham gia khởi nghĩa đơn giản là được ăn và hy vọng có điều gì đó thay đổi. Cuộc khởi nghĩa do những người nông dân nghèo khổ cả đời chỉ biết cầm cái cày, cái liềm nhanh chóng thất bại và Nguyễn Hải quay trở về nhà của mình. Truyện ngắn trên sự kiện có thật trong lịch sư để thể hiện số phận của người nông dân trong chiến tranh loạn lạc. Chúng ta cảm nhận được không khí ảm đạm bao trùm lên câu chuyện với cái đói, cái khát, nỗi buồn. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi trong gia đoạn suy tàn của một triều đại thì làm gì có ai lo cho cuộc sống của người dân. Số phận con người nhất là người nông dân nghèo bấp bênh như chiếc lá vô định trong cơn cuồng phong của lịch sử. Là một cây bút mới hơn 30 tuổi, nhà văn Đinh Phượng đi vào đề tài dã sử khi hóa thân vào một nhân vật không có gì trong tay, nhiều ước vọng nhưng dễ thay đổi trước bất chắc, khó khăn. Truyện của anh không đi vào những đấu đá trong hoàng cung, những thay đổi lớn lao của thời đại mà khai thác số phận nhỏ bé của một người nông dân để thể hiện ý nghĩa cuộc sống hòa bình, hạnh phúc. Hiện nay khi thế giới vẫn có những nơi người dân khổ cực vì chiến tranh loạn lạc thì chúng ta càng trân quý cuộc sống hòa bình trên đất nước Việt Nam. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)
Chương trình Đọc truyện đêm khuya hôm nay, giọng đọc Hải Yến sẽ chuyển tới các bạn truyện ngắn Giấc ngủ xuân của nhà văn Võ Khắc Nghiêm. Truyện ngắn mang đến cho độc giả những cảm giác ấm áp xúc động về tình người, về sự đồng cảm đồng điệu giữa những tâm hồn yêu văn chương nghệ thuật, có cả những bao dung, tha thứ cho những lầm lạc mà bất cứ ai trong số chúng ta cũng có thể một đôi lần mắc phải trong cuộc đời:

“Đường chợ gánh gồng” là một truyện ngắn nhắc nhớ nhiều hoài niệm. Bước vào không gian của tác phẩm, dường như người đọc được trở về với thuở ấu thơ, với những năm tháng còn được có bà. Truyện ngắn vì thế mà khiến người ta bùi ngùi trước cả khi lật giở từng trang, lắng nghe từng dòng của “Đường chờ gánh gồng”. “Bà” trong kí ức của nhân vật “tôi” vừa có nét riêng vừa phảng phất những đặc điểm thường thấy của nhiều người phụ nữ đã quen với vất vả hi sinh, quen với thiệt thòi tủi phận. Bà của nhân vật “tôi” không thơm thơm mùi trầu mà ngày ngày quanh quẩn bán gà bán vịt. Bà không kể chuyện cổ tích nhưng vẫn gắn với chuyện ngày xửa ngày xưa, chuyện nhuộm răng gội đầu. Bà có những nỗi khổ tâm riêng mà kể cả khi nhắm mắt xuôi tay vẫn chưa được con cháu thấu hiểu cảm thông. “Đường chợ gánh gồng” không phải là một truyện mạnh về kĩ thuật viết. Bản thân tác giả dường như thường chọn cách kể mộc mạc, giản dị khi nói về những phận đời hay bị bỏ quên. Tuy nhiên, cũng chính nhờ sự mộc mạc giản dị ấy, cùng với sự chăm chút về chi tiết, nhà văn lại ghi điểm với độc giả ở những điều tưởng chừng chẳng có gì lạ. Có lẽ, sau những ồn ào của cuộc sống, người ta lại cần những phút lặng lẽ trầm tư để nhớ về những kí ức còn có bà, có mẹ trong đời… (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)
Thời kỳ làm Tổng binh xứ Hưng Hóa, một vùng đất kéo dài từ Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn La đến Hòa Bình ngày nay, Nguyễn Gia Thiều thường tranh thủ từ vùng núi rừng hiểm trở về nhà riêng ở gần hồ Tây để sáng tác và đàm đạo cùng anh em, bạn hữu. Tương truyền, ông có đến mười một em trai, hai mươi em gái, trong đó có bốn người em trai cùng chung niềm say mê với thơ ca. Ông cùng các em lập nên Tao đàn Tứ Trai. Thi đàn gia đình gồm Nguyễn Gia Thiều tên hiệu là Tâm Thi Viện Tử được tôn là Thi Nguyên. Bốn người em trai là Kỳ Trai Nguyễn Gia Cơ, Hòa Trai Nguyễn Gia Diễm, Mục Trai Nguyễn Gia Xuyến, Thanh Trai Nguyễn Gia Tuyên lấy tên hiệu lần lượt là Thi Đề, Thi Xích, Thi Cầm, Thi Thược.
Nhắc đến Phùng Cung là nhắc đến một trong những gương mặt thơ độc đáo của thế kỷ 20. Ông là một trong số không nhiều các thi sĩ chỉ xuất bản một thi tập duy nhất trong đời nhưng đã tạo được dấu ấn đặc biệt, hình thành một phong cách riêng về giọng điệu và ngôn ngữ. 21 năm sau khi ra đời, tập thơ Xem đêm được tái bản và dành Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2016. Nhân dịp tròn 25 năm ngày Phùng Cung qua đời, chương trình Đôi bạn văn chương xin dành một cuộc trò chuyện về chân dung văn học của ông với tên gọi: Phùng Cung – U uẩn một chữ Tình