Nhắc đến Hoàng Cầm là nhắc đến một gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại với một hành trình sáng tác kéo dài hơn 6 thập kỷ, từ trước 1945 cho tới thập niên đầu của thế kỷ 21. Hoàng Cầm lúc sinh thời đã xuất bản tất cả 8 tập thơ và điều đặc biệt hơn nữa là nhiều bài thơ của ông đã kéo theo nhiều giai thoại ly kỳ, thú vị được truyền tụng trong làng văn nghệ. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm sinh thi sĩ Hoàng Cầm, chương trình Đôi bạn văn chương trong những ngày đầu xuân năm mới muốn dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ ông với tên gọi: Lúng liếng Hoàng Cầm.
Cuộc đời của mỗi con người, từ khi sinh ra, trưởng thành rồi từ giã thế gian, không ai là không có những người bạn. Tự bao đời, tình bạn đã trở thành một đề tài đẹp đẽ của văn học nghệ thuật nói chung, của thi ca nói riêng. Lịch sử thơ Việt từ cổ điển đến hiện đại có không ít những tình bạn thật cảm động, đã in dấu vào nhiều tác phẩm. Vì thế. chương trình Đôi bạn văn chương lần này xin được gửi tới quý vị thính giả một cuộc trò chuyện với nhan đề Tình bạn trong thơ Việt để chúng ta một lần nữa được rung động với nhiều tác phẩm có sức sống vượt thời gian.
Vừa rộn ràng vừa lắng đọng, thiêng liêng làm sao những cảm xúc tân Xuân. Như bao năm qua, giờ khắc này, Tiếng thơ muốn cùng hòa chung nhịp đập trái tim với các thính giả. Sau nỗi bồi hồi với những vần thơ viết về hạnh phúc, mời các bạn kết nối miền cảm xúc ngân rung của thế hệ người làm thơ thuở trước và hôm nay. Chắt chiu hạnh phúc bắt đầu bằng sự lắng nghe, bằng những thương yêu thấm thía, Tiếng thơ luôn sẵn sàng đồng hành với các nhà thơ, các thính giả, bạn yêu thơ khắp mọi miền đất nước.
Thử hỏi ai mà không bồi hồi khi tiễn những tờ lịch cuối cùng của một năm sắp qua – Một cảm giác bao lâu vẫn còn ngưng đọng những nỗi niềm. Nếu nhà thơ Kim Dũng từng viết: “Giã từ tờ lịch cuối năm/ Mà sao lại cứ dùng dằng lạ chưa/ Chông chênh hai phía gió lùa/ Tóc xanh mây trắng đôi bờ thời gian” thì cũng trong bài thơ lục bát nhan đề “Tờ lịch cuối năm”, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng lắng nghe trong xa xăm: “Mỏng manh tờ lịch cuối năm/ Nhẹ tênh rơi xuống chỗ nằm...Vọng âm/ Thoảng như hơi gió vương trầm/ Thoảng như sương khói môi thầm thĩ xa”.
Trước sự kiện sắp tới UNESCO sẽ cùng nước ta kỷ niệm năm sinh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, Chuyên gia văn học trung đại - GS.TS Trần Ngọc Vương (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng đây là một hoạt động “hoàn toàn xứng đáng và có lý”. Nói như vậy bởi qua các tác phẩm của mình, cụ Đồ Chiểu được coi là lá cờ đầu không chỉ của văn học yêu nước ở Nam Bộ và cả đất nước ta. Đồng thời, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng là lá cờ đầu của văn học chống chủ nghĩa thực dân, không chỉ của Việt Nam mà của thế giới. Hơn thế, tác giả của truyện thơ “Lục Vân Tiên”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” còn thể hiện tầm vóc, tư duy của một tác giả tiên phong, đi trước thời đại.

Viết về người cựu chiến binh chiến tranh biên giới, nhà văn Phan Ngọc Chính kéo léo đan xen quá khứ với những vấn đề thời sự của hiện tại. Qua cuộc gặp gỡ, trò chuyện giữa nhân vật ông Sơn và Liu, một khách buôn người Hoa, không gian và thời gian được quay trở lại mấy chục năm trước. Khi mà ông Sơn và ông Liu là hai người lính đối đầu nhau trong cuộc chiến biên giới Việt Trung. Mấy chục năm sau, hai người cựu binh lại trở thành đối tác làm ăn buôn bán. Gặp lại nhau sau nhiều năm, hai người không khỏi nhớ lại những kỉ niệm xưa trên chiến trường. Những mất mát, hi sinh, lòng vị tha của người lính Việt Nam được thể hiện qua lời kể của ông Sơn và ông Liu. Dù những trận chiến đấu trong quá khứ không được tác giả viết quá nhiều nhưng đã thể hiện được hình ảnh cao đẹp của người lính Việt Nam chiến đấu, hi sinh để bảo vệ tổ quốc. Tác giả giành nhiều đất cho những thay đổi của đất nước, mối quan hệ của hai đất nước, hai dân tộc sau trận chiến. Sau chiến tranh loạn lạc thì việc giao thương buôn bán giữa hai đất nước luôn được tiếp diễn tạo sinh kế cho nhiều người. Qua việc hợp tác làm ăn của hai người cựu binh, tác giả đề cập đến nhiều vấn đề thời cuộc như việc mất mùa được giá của người nông dân, những điều cẩn trọng khi làm ăn với nước bạn, việc ắc tắc nông sản tại biên giới …Chủ động tìm thị trường mới, đối tác mới là điều cần thiết của người nông dân nước ta để tránh quá phụ thuộc vào thị trường nước bạn. Đó là điều tác giả muốn gửi đến người đọc, người nghe qua câu chuyện làm ăn giữa nhân vật Sơn với đối tác phía bên kia. Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh tới truyền thống cách mạng, tình cảm đồng đội keo sơn qua mối duyên tình của đôi bạn trẻ Hà và Na. Một truyện ngắn dung dị đề cập nhiều vấn đề của quá khứ, hiện tại và tương lai. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)

Là một cây bút chuyên viết về đề tài người phụ nữ, tác giả Vũ Thị Huyền Trang thường đi sâu khai thác đời sống nội tâm nhân vật với nhiều cung bậc phức tạp, rối ren. Truyện của chị thường có nét u buồn: buồn thương thân, buồn thiệt phận, buồn vì kiếp đàn bà “trót sinh ra thế biết là tại đâu”. Chính vì vậy, với những ai đã quen biết Vũ Thị Huyền Trang qua trang viết, “Cưới nhau vào mùa xuân” và “Vùng xanh” là những tác phẩm hiếm hoi của chị có màu sắc tươi sắc với cái kết có hậu. Trong đó, “Vùng xanh” gây ấn tượng với BTV hơn cả. Nhân vật chính tên Sâm cũng là người “yêu rồi cưới” nhưng điều đó cũng phải là tấm vé đảm bảo cho hạnh phúc gia đình. Có những điều khi yêu đương người ta không nhận ra sự xô lệch nhưng hôn nhân lại như một chiếc kính hiển vi, soi rõ và thậm chí khuếch đại khuyết điểm của từng người. Giống như một câu nói vui: “Tình yêu là đi từ lúc chứa chan đến lúc chán chưa”, hôn nhân khiến người ta ngỡ ngàng với cảnh đồng sàng dị mộng, nhìn mãi, ngắm mãi mà không thấy nét nào của người đã từng làm mình đắm say. Sâm cũng không phải là một ngoại lệ. Tuy nhiên, cô may mắn hơn khi trong khoảng thời gian xa chồng vì dịch bệnh Covid 19, cô mới chợt nhận ra chính mình cũng có lúc vô tâm, ích kỉ trong gia đình này. Khép lại bằng một cái kết có hậu, “Vùng xanh” hẳn sẽ khiến nhiều người thấy ấm áp. Tác phẩm cũng nhắc nhở một cách nhẹ nhàng về sự sẻ chia trong đời sống vợ chồng, điều mà nếu thiếu đi, ta chỉ còn là những người lạ chung nhà mà thôi. (Lời bình của BTV Nguyễn Hà)
Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu vốn là một nhà nho giàu lòng yêu nước, nhưng vì hoàn cảnh mù lòa mà không thể phất cờ khởi nghĩa như các bậc anh hào như Trương Định, Phan Công Tòng, Thủ khoa Huân. Dẫu vậy, cũng như Nhà yêu nước Phan Văn Trị, bằng tài năng sáng tác thơ văn, cụ Đồ Chiểu đã thành công trong việc biến ngòi bút thành vũ khí chiến đấu sắc bén để phụng sự lý tưởng giải phóng dân tộc. Buổi “Tìm trong kho báu” hôm nay của Ban VHNT VOV6 tập trung soi sáng tâm niệm ấy.

Không có những đoạn miêu tả đầy sức gợi như truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng”, “Tên trộm hoàn lương” dày đặc chi tiết qua những lời kể mang tính hiện thực khách quan. Nhân vật chính của truyện là một tên trộm két sắt với bàn tay vàng và bộ đồ nghề có một không hai. Gã chưa bao giờ thất bại trong các phi vụ lớn và luôn có những mánh lới để qua mắt cảnh sát. Như bao người khác Jimmy nuôi mộng rửa tay gác kiếm, làm ăn chân chính khi mắc lưới tình. Nhưng cuộc đời éo le ở chỗ chính vào lúc đỉnh điểm khát khao sắp thành hiện thực, Jimmy lại phải giở ngón nghề cũ để cứu nguy cho cháu bé con chị gái của vợ sắp cưới. Đứng trước tình thế nguy khốn, cùng với bàn tay tài hoa thì lương tri con người trong tên trộm được kích hoạt. Gã đã hành động kịp thời mà không mang tới việc tất cả đã tố cáo quá khứ cố che giấu bấy lâu nay. Và như cởi được gánh nặng đè nén tâm can, Jimmy sẵn sàng cúi đầu nhận tội, đối mặt với hình phạt đích đáng cho các phi vụ trộm két sắt ngân hàng trước đó. Nhưng bất ngờ thay, và cũng vỡ òa trong một cử chỉ đẹp đến ngỡ ngàng mà nhà văn O.Henry đã trao cho nhân vật người chánh thanh tra trực tiếp nhận nhiệm vụ bắt giữ tên trộm khi đã có đầy đủ chứng cứ trong tay. Một truyện ngắn mà cái kết đã chạm và thỏa được ý nguyện của độc giả.

Truyện ngắn mang phong cách dã sử khi đưa chúng ta trở lại không gian xưa dưới thời phong kiến loạn lạc. Người dân nhất là người phụ nữ chịu nhiều cực khổ, họ không làm chủ được số phận của mình. Nhân vật cô gái Trúc Nhã chính là một nạn nhân của xã hội xưa. Là người con gái xinh đẹp đang tuổi đôi mươi, Trúc Nhã bị ép làm thiếp tên Đinh Phiệt, tuần phủ Quy Nhơn. Để cứu người yêu, Vi Thượng đã đến cậy nhờ huynh đệ kết nghĩa là Lía cứu giúp. Nhưng ai ngờ Lía vì tham luyến sắc đẹp của Trúc Nhã mà hãm hại Vi Thượng. Cuối cùng trải qua biến cố thăng trầm, Vi Thượng và Trúc Nhã đã đoàn tụ cùng nhau trong niềm hạnh phúc. Với đề tài tình yêu đôi lứa, truyện ngắn đã mang lại nhiều cảm xúc cho người đọc, người nghe. Chúng ta vui sướng trước hạnh phúc lứa đôi của Vi Thượng và Trúc Nhã, phẫn uất trước hành động cướp đoạt dân nữ của bọn tham quan ô lại, kinh ngạc và giận dữ vì sự phản bội của Lía. Truyện ngắn có những biến cố, những nút thắt bất ngờ cuốn hút người đọc, người nghe. Qua tình duyên của hai nhân vật chính, tác giả thể hiện được phần nào sắc thái chữ Tình. Vì tình mà Vi Thượng và Trúc Nhã đã vượt qua chông gai để đến với nhau, vì tình mà Lía phản bội lại người ân của mình, vì tình mà Định Phiệt mất mạng … Truyện ngắn rất giàu chất liệu để trở thành một kịch bản phim về đề tài dã sử khi có tình yêu, có ân nghĩa huynh đệ, có đấu tranh giai cấp, có sự phản bội, có sự hối lỗi hấp dẫn người xem. Tiếng thở dài của Lía trước khi quay người bỏ đi là cái kết đẹp của câu chuyện. Cánh én mùa xuân mừng vui hạnh phúc lứa đôi của Trúc Nhã và Vi Thượng cũng xua đi những xấu xa, đê hèn trong tâm hồn Lía. (Lời bình của BTV Hoàng Hiệp)
Hướng tới ý nghĩa nhân văn tốt đẹp, cuộc thi thơ với chủ đề “Sống và hy vọng” bước đầu đã nhận được sự hưởng ứng tham gia của đông đảo các tác giả, người yêu thơ. Các đơn vị: Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Ban Văn học Nghệ thuật VOV6 và Diễn đàn văn học Quán Chiêu Văn đã cùng bắt tay tổ chức một cuộc thi mà chỉ trong một thời gian ngắn sau khi phát động đã cho thấy những kết quả bước đầu đáng hi vọng.
Nói về thơ văn Đồ Chiểu, nhà thơ Xuân Diệu ngợi ca: “Ngôn ngữ trong thơ ông “là thứ ngôn ngữ bình dân, chân thực, thông dụng, thực tế, có cái vị thơm, cái hương lành của cây trái Nam Bộ – cái hương vị văn miền Nam”. Giáo sư Lê Trí Viễn nhận định Nguyễn Đình Chiểu vừa là “thầy học giữa làng” vừa là “thầy lang cuối xóm”. Trong ông, có “ba con người trí thức”. Đó là “thầy thuốc, thầy giáo, và nhà thơ”. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng nhiều câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu không cần gọt giũa mà vẫn nói được nhiều điều đơn giản, thẳng thắn, có khi “còn nguyên thuỷ của người Nam Bộ”. Theo Nhà Phê bình Lê Xuân – Người dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu và khám phá vẻ đẹp của văn hóa - văn nghệ dân gian Nam bộ thì sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với vận mệnh đất nước và nhân dân Nam Bộ trong một giai đoạn lịch sử đầy bi tráng. Thơ văn của ông là hơi thở, là ý tình của người dân Nam Bộ

Nhà văn Nông Quang Khiêm từng tâm sự: “Tôi sinh ra ở miền núi, trong một bản nhỏ ven hồ Thác Bà thơ mộng, thấm đẫm không gian văn hóa Tày. Cuộc sống mới tràn về, cái bản nhỏ ấy đang cựa quậy theo nhịp sống hiện đại. Những con người, những mảnh đời, những thân phận nơi tôi sống, tôi chứng kiến, chỉ cần kể lại thôi cũng thành một truyện ngắn rồi…”. Truyện ngắn Bản Hảu xa xôi mà các bạn vừa nghe dường như cũng ra đời trong một tâm thế như thế; tác giả không cần dụng công nhiều, chỉ kể lại một cách dung dị, mộc mạc và chân thành về số phận những con người miền núi, quanh quẩn với mưu sinh, có lúc rối bời trong những mối quan hệ chằng chịt hay phải đối mặt với tình huống éo le, song truyện có sức ám ảnh và khơi gợi được sự đồng cảm nơi người nghe. Có thể nói, Bản Hảu xa xôi là hành trình của những cuộc tìm kiếm. Mặc cảm vì mắc bệnh phong, ông Kẹn bỏ nhà ra đi. Không nỡ để ông cô đơn chống chọi với bệnh tật, bà Kẹn đã để con gái ở nhà một mình rồi lên đường tìm chồng. Không lâu sau, Son cũng đi tìm bố mẹ. Lình lại đi tìm Son. Song nếu như vợ tìm chồng, con tìm cha mẹ xuất phát từ tình cảm gia đình máu mủ ruột rà thì việc Lình tìm Son lại đến từ tình yêu, sự sẻ chia. Thiết nghĩ, chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cảm động, vì Lình đã vượt qua nỗi sợ hãi của bản thân, sự kỳ thị của bà con dân bản, sự ngăn cản của cha mẹ để đến với Son. Nhưng cảm động hơn, lớn lao hơn chính là việc Lình tình nguyện ở lại bản Hảu để cùng sống, cùng làm việc, giúp đỡ bà con nơi đây và đặc biệt là dạy cái chữ cho trẻ em.
Bản Hảu xa xôi, nhưng thật ra không xa xôi, nó thật gần trong tâm tưởng, trong ý nghĩ, trong tình cảm của những con người có trái tim nồng ấm, biết hy sinh, cống hiến vì người khác. Vì thế, đọng lại trong người nghe là một câu chuyện ấm áp, toát lên khát vọng sống, tình yêu và lòng vị tha của con người./.
Nhắc đến Trần Vàng Sao là nhắc đến bài thơ nổi tiếng của ông Bài thơ của một người yêu nước mình được viết vào tháng 12/1967 và ngay lập tức được lan tỏa rộng rãi trong đời sống văn học trên cả nước suốt hơn nửa thế kỷ qua. Khi còn sống, Trần Vàng Sao chưa từng được xuất bản chính thức một tập thơ nào, chỉ thi thoảng đăng rải rác một vài bài thơ lẻ. Năm 2020, lần đầu tiên một tuyển thơ của ông được xuất bản chính thức do NXB Hội nhà văn và Công ty Nhã Nam cùng hợp tác phát hành. Đầu tháng 11 năm ngoái, tập thơ Bài thơ của một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao được trao Giải thưởng Sách quốc gia năm 2021. Chương trình Đôi bạn văn chương nhân sự kiện này muốn dành một cuộc trò chuyện về chân dung thơ Trần Vàng Sao qua thi tập này.